
Chia tay thôi - Columbus - Philip
Roth - Chương 1
Kỳ: [1] 2 3 4 5 ...
Philip Roth (sinh năm 1933) Nhà
văn có những tác phẩm đặc trưng
với đối thoại sắc bén, mối quan
tâm đến đời sống của người Do
Thái trung lưu, và những quan hệ
bi đát giữa tình yêu trai gái và
tình yêu gia đình.
Roth tốt nghiệp Đại học
Chicago và bắt đầu nổi tiếng với
Goodbye Columbus ( Chia tay thôi,
Columbus , 1959; giải National
Book Award 1960). Tiểu thuyết đầu
tiên của ông, Letting Go ( Buông
thả, 1962), và cuốn kế, When She
Was Good ( Khi nàng còn tốt ,
1967) đều không thành công lắm
cho đến khi ông viết Portnoy’s
Complaint ( Lời khiếu nại của
Portnoy, 1969). Cuốn này được xếp
vào loại kinh điển của văn học Mỹ
gốc Do Thái, mô tả những đau khổ
và thiệt hại mà bối cảnh văn hóa
đã gây ra cho nhân vật Portnoy.
Mấy tác phẩm đáng kể khác của
ông là The Ghost Writer ( Kẻ viết
thuê , 1979), Zuckerman Unbound
( Zuckerman vô hạn định , 1981),
Anatomy Lesson ( Bài học giải
phẫu , 1983), The Counterlife
( Phản sinh , 1986) và American
Pastoral ( Điền dã Hoa-kỳ , 1997;
giải Pulitzer 1998).
Goodbye Columbus gồm tám
chương, kể về một mối tình ngắn
ngủi – chỉ một mùa hè – giữa một
chàng trai Do Thái nghèo sống tự
lập và con gái một gia đình thị dân
Do Thái trung lưu. Chàng trai luôn
cảm thấy một tương lai tan vỡ cho
mối tình của họ, nhưng thực ra trở
ngại với anh chính là lối sống thực
dụng và các thành kiến của gia
đình cô gái.
1
Lần đầu tiên tôi gặp Brenda nàng
nhờ tôi giữ giùm cặp kiếng. Rồi
nàng bước tới mép tấm ván nhún
và nhìn mơ màng xuống hồ; có thể
nước đã bị tháo sạch, và Brenda
cận thị chắc không hề biết điều
đó. Nàng lao xuống rất đẹp, và giây
lát sau đã bơi trở lại mé hồ, mái
tóc hung đỏ cắt ngắn của nàng cất
cao, vươn tới trước, cứ như đóa
hồng trên một cuống dài. Nàng
lướt tới mép hồ và thế là đến cạnh
tôi. “Cám ơn nghe,” nàng nói, đôi
mắt long lanh tuy không phải do
nước. Nàng chìa tay nhận cặp
kiếng nhưng không đeo lên cho
đến khi quay lưng và bỏ đi chỗ
khác. Tôi nhìn nàng xa dần. Đột
nhiên nàng thò tay ra sau, bằng
ngón trỏ và ngón cái, nàng kéo
đũng quần và đẩy phần da thịt lộ
ra trở về đúng chỗ của nó. Máu me
tôi nhảy tưng một nhịp.
Tối đó, trước bữa ăn, tôi gọi cho
nàng.
“Mày gọi ai vậy?” Dì Gladys của tôi
hỏi.
“Cô bạn mới gặp bữa nay.”
“Doris giới thiệu hả?”
“Doris không chịu giới thiệu con
với cái thằng tháo nước hồ đâu, Dì
Gladys.”
“Mày đừng có lúc nào cũng chỉ
trích thế. Bà con vẫn là bà con.
Sao mày quen được nó?”
“Thực ra con đâu quen cô ấy. Con
chỉ thấy thôi.”
“Đứa nào vậy?”
“Họ cô ta là Patimkin.”
“Patimkin tao không biết,” Dì
Gladys nói, cứ như bà biết bất cứ
ai trong Câu lạc bộ Green Lane
Country vậy. “Mày tính gọi mà
không quen biết trước gì cả à?”
“Vâng,” tôi giải thích. “Con sẽ tự
giới thiệu.”
“Đồ Casanova,”[1] dì ấy phán rồi
tiếp tục chuẩn bị bữa tối cho chú
tôi. Nhà chúng tôi không dùng bữa
với nhau: dì Gladys ăn lúc năm giờ,
cô em họ Susan của tôi lúc năm
rưỡi, tôi sáu giờ, còn chú tôi sáu
rưỡi. Chẳng có gì giải thích được
chuyện này hơn cách kết luận rằng
bà dì tôi khùng.
“Danh bạ điện thoại ngoại ô đâu
rồi?” Tôi hỏi sau khi lôi hết mọi
cuốn sách dưới gầm bàn điện thoại
ra.
“Cái gì?”
“Danh bạ điện thoại ngoại ô. Con
muốn gọi tới Short Hills.”
“Cuốn mỏng teng đó hả? Ôi, bộ tao
phải chứa trong nhà cái thứ đó
sao, tao có bao giờ xài tới nó đâu?”
“Nó đâu rồi?”
“Dưới tủ chén chỗ chân tủ bị sút
ra đó.”
“Lạy chúa tôi,” tôi kêu lên.
“Gọi cho tổng đài thì hơn. Mày vào
bếp moi móc trong đó rồi làm lộn
tung mấy ngăn kéo của tao cho
coi. Đừng quấy tao nữa, mày biết
chú mày sắp về tới mà. Tao cũng
chưa cho mày ăn được nữa.”
“Dì Gladys, coi như tối nay nhà
mình dùng bữa chung nghe. Trời
nóng mà, vậy tiện cho dì hơn.”
“Hay dữ, tao sẽ phải dọn bốn phần
ăn khác nhau một lượt. Mày ăn thịt
chiên tảng, Susan ăn pho mát
trắng, ông Max ăn bipstếch. Tối
thứ Sáu là ăn bipstếch mà, tao
không cấm ông ấy được. Còn tao
thì thịt gà nguội. Tao phải tưng
lên tưng xuống cả hai chục lần
sao? Tao là cái gì, con ngựa cày
chắc?”
“Sao cả nhà mình không cùng ăn
bipstếch, hay gà nguội…”
“Tao coi sóc cái nhà này hai chục
năm rồi. Đi gọi điện cho con bạn
mày đi.”
Nhưng khi tôi gọi, Brenda Patimkin
không có nhà. Cô nàng ăn tối ở câu
lạc bộ, một giọng phụ nữ cho tôi
biết như thế. Rồi cô ấy có về nhà
không (giọng tôi lúc đó cao hơn
giọng một cậu trong dàn đồng ca
tới hai quãng tám)? Tôi không biết,
giọng đó đáp, có thể nó sẽ đi chơi
golf. Ai đầu dây vậy? Tôi lắp bắp
vài lời… chẳng là gì cả cô ấy không
biết đâu tôi sẽ gọi lại không nhắn
gì đâu ạ cám ơn xin lỗi đã quấy
rầy… tôi gác máy trong khi còn
dang dở chuỗi lảm nhảm ấy. Rồi bà
dì gọi và tôi gồng mình chuẩn bị
vào bữa tối.
Bà đẩy cái quạt máy rù rì đen thui
lên tốc độ cao và như thế nó làm
chao đảo cả sợi dây điện lòng
thòng từ cái đèn bếp.
“Mày muốn uống gì? Tao có bia
gừng, nước khoáng, dâu đen, và
một chai soda kem có thể khui
được.”
“Không uống đâu, cám ơn.”
“Mày uống nước lạnh hả?”
“Con không uống trong bữa ăn. Dì
Gladys, con đã nói với dì mỗi ngày
suốt một năm nay rồi…”
“Ông Max uống được cả két chỉ với
món gan bằm thôi. Ông ấy lao
động cực nhọc cả ngày. Nếu mày
lao động nặng thì chắc uống nhiều
hơn.”
Ở chỗ lò bà chất một đĩa đầy món
thịt chiên tảng, khoai tây luộc,
nước chiên thịt, và đậu với cà rốt.
Bà đặt đĩa trước mặt tôi và tôi có
thể cảm thấy hơi nóng của thức ăn
tỏa lên mặt. Rồi bà cắt hai miếng
bánh mì và đặt kế bên tôi, trên
bàn.
Tôi dùng nĩa tách một củ khoai tây
làm hai và ăn, trong khi Dì Gladys,
ngồi đối diện bên kia bàn, quan
sát tôi. “Mày không thích bánh mì,”
dì nói, “tao không cắt ra sợ nó mất
ngon.”
“Con thích bánh mì chứ,” tôi nói.
“Mày không thích ăn chung với hạt
phải không?”
Tôi xé một miếng bánh mì làm hai
và ăn.
“Còn thịt thế nào?”
“Ồ, ngon.”
“Mày sẽ ngốn cả đống khoai tây với
bánh mì rồi bỏ dư thịt làm tao
phải đổ đi.”
Đột nhiên bà đứng bật khỏi ghế.
“Muối!” Khi trở lại bàn bà dằn một
lọ muối xuống trước mặt tôi –
không bao giờ có tiêu trên bàn ăn
trong nhà bà: bà nghe được trên
chương trình của Galen Drake rằng
cơ thể không hấp thụ được thứ đó
và thật phiền cho Dì Gladys khi
phải nghĩ rằng món gì đó do bà
dọn lên lại chỉ đi qua thực quản,
dạ dày và bộ ruột chỉ như đi du
hành cho vui thôi.
“Mày sẽ nhặt hết đậu ra hả? Mày
nói với tao vậy mà, tao không ưa
nổi thứ cà rốt.”
“Con thích cà rốt,” tôi nói, “Con
thích cả lũ cà rốt.” Và để chứng
minh, tôi lùa cả đống cà rốt vào
họng và lùa một nửa mớ đó nữa
xuống quần dài.
“Heo,” dì ấy nói.
Tuy tôi rất khoái đồ tráng miệng,
nhất là trái cây, nhưng tôi quyết
định không ăn tí nào cả. Trong
buổi tối nóng nực này, tôi muốn
tránh bàn cãi việc tôi thích trái cây
tươi hơn trái cây đóng hộp, hay
trái cây đóng hộp hơn trái cây tươi;
dù tôi thích thứ nào hơn thì Dì
Gladys cũng có cả đống thứ ngược
lại chất trong tủ lạnh cứ như kim
cương đánh cắp vậy. “Nó thích táo
đóng hộp mà tôi có đầy nguyên
một tủ lạnh nho phải vứt bỏ…”
Cuộc đời chỉ là việc vứt bỏ đối với
Dì Gladys tội nghiệp, những niềm
vui lớn nhất của dì là moi rác ra,
dọn sạch tủ nhà bếp, và soạn
những túi đồ cũ xì cho cái mà dì
vẫn gọi là những người Do Thái tội
nghiệp ở Palestine. Tôi chỉ mong dì
qua đời khi tủ lạnh trống rỗng, nếu
không dì sẽ phá hủy cõi vĩnh hằng
của mọi người khác, dù đó là bất
cứ gì, với món nho mốc xanh, và
những trái cam trổ lông nấm bên
dưới.
Chú Max của tôi về đến và trong
khi tôi gọi số của Brenda lần nữa,
tôi còn nghe được tiếng bật nút
chai soda trong bếp. Lần này giọng
trả lời điện thoại nghe cao, cụt lủn
và mệt mỏi. “Alô.”
Tôi lao ngay vào bài diễn thuyết.
“Alô-Brenda-Brenda cô không biết
tôi tức là cô không biết tên tôi
nhưng tôi đã giữ kiếng giùm cô
chiều nay ở câu lạc bộ… Cô đã nhờ
tôi làm thế tôi không phải hội viên
nhưng em họ tôi Doris là hội viên
ở đó Doris Klugman tôi đã hỏi cô là
ai…” Tôi thở một phát, để cho nàng
có cơ hội lên tiếng, và rồi nói tiếp
khi thấy đầu dây bên kia vẫn im re.
“Doris hả? Nó là đứa lúc nào cũng
thấy đọc Chiến Tranh và Hòa Bình.
Nhờ thế mà tôi biết đã tới mùa hè,
mỗi khi thấy Doris đọc Chiến Tranh
và Hòa Bình.” Brenda không cười;
ngay từ đầu tôi đã thấy nàng là
loại thực tế.
“Anh tên gì?” nàng nói.
“Neil Klugman. Tôi giữ kiếng cho cô
ở chỗ cầu nhảy, nhớ hông?”
Nàng trả lời bằng một câu hỏi theo
kiểu của nàng, một lối hỏi mà tôi
dám chắc sẽ gây bối rối cho cả đứa
xoàng xĩnh lẫn đứa điển trai.
“Trông anh ra làm sao?”
“Tôi… da sậm.”
“Anh dân da đen hả?”
“Không,” tôi đáp.
“Vậy trông anh ra sao?”
“Tối nay tôi ghé chơi cho cô thấy
tôi ra sao được không?”
“Hay lắm,” nàng bật cười. “Tối nay
tôi chơi tennis.”
“Tôi tưởng cô đang chơi golf chứ.”
“Tôi chơi xong rồi.”
“Còn sau cữ tennis thì sao?”
“Sau cữ tennis chắc tôi mồ hôi mồ
kê dữ lắm,” Brenda nói.
Câu này không phải để cảnh báo
tôi hãy bịt mũi lại và chạy cho xa;
mà đó là một dữ kiện, rõ ràng nó
chẳng làm Brenda bối rối, nhưng
nàng muốn tôi ghi nhớ.
“Đâu hề gì,” tôi nói, hy vọng rằng
cái giọng đó giúp tôi chiếm được
một vị trí đâu đó lưng chừng giữa
bọn ở dơ và bọn câu nệ. “Tôi đón
cô được không?”
Nàng im lặng một lát; tôi nghe
nàng lẩm nhẩm, “Doris Klugman,
Doris Klugman…” Rồi nàng nói,
“Được, ở Briarpath, tám giờ mười
lăm.”
“Tôi sẽ chạy cái xe…” tôi làm lơ
không nói xe sản xuất năm nào,
“Plymouth nâu. Vậy là cô sẽ nhận
ra tôi. Còn tôi làm sao nhận ra cô?”
Tôi nói với tiếng cười tinh quái xỏ
lá.
“Thấy ai đang đổ mồ hôi thì biết
chứ sao,” nàng nói và gác máy.
* * *
Khi lái xe ra khỏi Newark, qua
Irvington và những ngã tư rối rắm
nghẹt xe cộ, những khu lụp xụp
của nhân viên đường sắt, những
bãi gỗ súc, và những bãi xe cũ, thì
trời đêm mát mẻ hơn. Làm như
những ngoại ô vượt cao hơn
Newark cả năm chục mét này đem
người ta tới gần thượng giới hơn, vì
mặt trời coi bộ cũng bự hơn, thấp
hơn, và tròn hơn, và rồi tôi lái xe
dọc những bãi cỏ dài làm như
đang tự rưới nước vòng vòng lên
chính chúng nó, và qua những ngôi
nhà chẳng có ai ngồi ngoài hàng
hiên, bên trong sáng đèn nhưng
chẳng cửa sổ nào mở, vì những
người trong đó, vốn không chịu
chia sẻ kiểu sống với bọn bên ngoài
chúng tôi, đã có một đồng hồ điều
tiết lượng hơi ẩm được phép tiếp
cận lớp da của họ. Mới tám giờ, và
tôi không muốn tới sớm, nên tôi lái
xe lòng vòng các con phố mang tên
các đại học miền đông, tuy rằng
thị trấn này, nhiều năm xưa, khi
đặt tên các thứ này, đã hoạch định
số phận cho con cháu các công
dân của nó.[2] Tôi nghĩ đến
chuyện dì Gladys và chú Max của
tôi chia nhau một thanh kẹo
Mound trong bóng tối ám khói của
ngõ hẻm nhà họ, trên những cái
ghế băng, mỗi cơn gió mát ngọt
ngào đối với họ cứ như lời hứa hẹn
về một kiếp sau, và lát sau tôi đã
lái xe vào những con đường trải sỏi
của công viên nhỏ nơi Brenda đang
chơi tennis. Trong hộc đựng găng
tay trên xe tôi tấm bản đồ Các
đường phố Newark làm như đã
biến thành những con dế, vì
những con đường tráng nhựa dài
hàng dặm không còn tồn tại với tôi
nữa, và những âm thanh của đêm
ồn hẳn lên khi máu chạy rần rần
trên thái dương của tôi.
Tôi đậu xe dưới đưới bóng xanh
đen của ba cây sồi, rồi thả bộ về
phía có tiếng banh tennis. Tôi
nghe một giọng cáu kỉnh kêu lên,
“Huề nữa.” Đó là giọng Brenda và
tiếng của nàng nghe cứ như đang
đổ mồ hôi tùm lum. Tôi bước lạo
xạo chậm rãi trên sỏi và lại nghe
tiếng Brenda. “Tôi lợi giao,” và
ngay khi tôi vòng theo lối đi, nghe
tiếng banh veo véo rồi tiếng
Brenda, “Ăn rồi!” Cây vợt của nàng
bay lộn lộn trên cao và nàng bắt
lấy nó rất gọn khi tôi ló mặt tới.
“Chào,” tôi kêu.
“Chào Neil. Một ván nữa nghe,”
nàng hô lên. Lời lẽ của Brenda làm
như khiến đối thủ phát cáu, đó là
một cô tóc nâu xinh xắn, không cao
bằng Brenda, cô ta thôi không tìm
trái banh đã đánh qua chỗ cô ta
nữa và ban cho cả tôi lẫn Brenda
một cái nhìn bực bội. Trong giây
lát tôi hiểu ra lý do liền: Brenda
đang dẫn trước năm bốn, và cái
kiểu nàng đắc chí về việc chỉ còn
một ván nữa là xong đã khơi dậy
một đống bực tức ở đối thủ đủ cho
cả hai chúng tôi chia nhau mà vác.
Quả nhiên Brenda thắng ván đấu
đó, tuy phải đấu nhiều lượt hơn dự
tính. Cô bạn kia, có tên nghe từa
tựa như Simp, có vẻ khoái chí khi
gỡ được sáu đều, nhưng Brenda, di
chuyển, chạy, nhảy rướn lên, không
chịu dừng lại, và sau cùng tôi chỉ
nhìn thấy di động trong bóng tối là
đôi kiếng của nàng, một ánh lấp
lánh của nó, cái khoá thắt lưng,
đôi vớ, đôi giày thể thao của nàng,
và, thỉnh thoảng, thấy được trái
banh. Trời càng tối Brenda càng
điên cuồng lên lưới, vụ này coi bộ
kỳ, vì tôi nhận ra lúc nãy, khi còn
sáng, nàng vẫn thủ cuối sân, và
ngay cả khi nàng phải chạy lên
lưới, sau khi đỡ trả một cú lốp
bóng, nàng trông cũng không khoái
chí như thế khi tiến tới gần cây vợt
của đối thủ như vậy. Niềm đam mê
muốn giành được một điểm của
nàng coi bộ còn thua xa niềm đam
mê muốn giữ nguyên nhan sắc của
nàng. Tô e rằng vết đỏ của trái
banh tennis in trên má còn làm
nàng đau khổ hơn cả việc mất đi
mọi điểm số trên đời này. Tuy
nhiên, trời tối khiến nàng cứ xông
tới, và đánh dữ dội hơn, và sau
cùng có vẻ như Simp bị đau cổ
chân. Khi xong ván đấu, Simp
khước từ đề nghị của tôi muốn cho
cô quá giang về và nói rõ bằng cái
giọng vay mượn từ một phim cũ xì
nào đó của Katherine Hepburn
rằng cô tự thu xếp được; rõ ràng
tòa biệt thự của cô nàng chẳng xa
quá đám cây tầm xuân gần nhất
kia. Cô nàng chẳng ưa tôi và tôi
cũng chẳng ưa cô ta, tuy tôi biết
chắc mình có ưu tư chuyện đó
nhiều hơn cô ta chút đỉnh.
“Ai vậy?”
“Laura Simpson Stolowitch.”
“Sao cô không gọi cô ấy là Stolo?”
tôi hỏi.
“Simp là tên của nó ở Bennington.
Thứ ngốc.”
“Cô cũng học ở đó hả?” tôi hỏi.
Nàng đang vuốt áo thun sát vào da
cho khô mồ hôi. “Không. Tôi học ở
Boston.”
Tôi không khoái nàng vì câu trả lời
này. Mỗi khi có ai hỏi tôi học ở đâu
là tôi nói ngay Đại học Rutgers, cơ
sở Newark. Có thể tôi nói tên đó ra
quá rổn rảng, quá nhanh, quá
ngần ngừ, nhưng tôi có nói ra.
Trong thoáng chốc Brenda làm tôi
nhớ lại mấy thằng cà chớn mũi
hếch trường Montclair vào thư viện
trong những kỳ nghỉ, và trong khi
tôi đóng dấu cho mượn sách,
chúng nó đứng sớ rớ kéo kéo
những khăn quàng cổ to xù của
chúng cho đến khi nó thoòng
xuống tận cổ chân, suốt từ đầu tới
cuối cứ hàm ý chuyện “Boston” với
“New Haven.”
“Đại học Boston hả?” tôi hỏi, mắt
ngó mông lên hàng cây.
“Radcliffe.”
Chúng tôi vẫn đứng trên sân,
chung quanh đầy những đường
vạch trắng. Quanh những bụi cây
cuối sân, những con đom đóm
đang vẽ những hình số tám trong
không gian có mùi gai góc và rồi,
khi trời đêm bất ngờ tràn tới,
những lá cây sáng lên trong giây
lát, cứ như vừa được tưới một cơn
mưa. Brenda ra khỏi sân, có tôi
theo sau một bước. Bây giờ tôi đã
quen với bóng tối, và khi nàng thôi
tồn tại như một giọng nói và đã trở
thành một hình ảnh rõ rệt, ít nhiều
nỗi bực bội của tôi về câu trả lời
“Boston” của nàng đã bay đi và tôi
cho phép mình ngắm nghía nàng.
Tay nàng không ngoéo vào mông
nữa, nhưng hình vóc vẫn lộ ra, dù
được che kín hay không, dưới cái
quần kaki Bermuda bó sát của
nàng. Có hai hình tam giác đẫm
mồ hôi trên lưng áo thun trắng
của nàng, ngay chỗ hai cái cánh sẽ
mọc ra nếu nàng có cánh. Nàng
còn có, cho trọn bộ, một thắt lưng
kẻ ca rô, vớ trắng và đôi giày tennis
trắng.
Nàng vừa đi vừa kéo dây kéo cái
bao đựng vợt lại.
“Cô có gấp về nhà không?” tôi hỏi.
“Không.”
“Vậy ngồi lại đây đi. Chỗ này dễ
chịu.”
“OK.”
Chúng tôi ngồi xuống một bờ cỏ đủ
nghiêng để tựa lưng mà không ngả
hẳn ra; ở một góc nhìn nào đó thì
có vẻ như bọn tôi đang chuẩn bị
theo dõi một biến cố nào đó trên
trời, như lễ đặt tên cho một vì sao
mới chẳng hạn, trăng còn một nửa
sắp phình lên tròn đầy. Brenda cứ
đóng mở dây kéo bao vợt trong khi
nói chuyện; lần đầu tiên trông
nàng có vẻ bồn chồn. Nỗi bồn chồn
của nàng khiến tôi dịu đi, và một
cách kỳ diệu, chúng tôi giờ đã sẵn
sàng cho một điều mà tụi tôi có
thể có được mà không biết: một
cuộc gặp gỡ.
“Cô em Doris của anh trông thế
nào?” nàng hỏi.
“Nó da sậm…”
“Cô ấy dân…”
“Không,” tôi nói. “Nó có tàn nhang,
tóc đen và cao ráo lắm.”
“Cô ấy học ở đâu?”
“Northampton.”
Nàng không nói gì và tôi không rõ
nàng đã hiểu được bao nhiêu phần
trăm hàm ý của tôi.
“Chắc tôi không quen cô ấy,” lát
sau nàng nói. “Cô ấy là hội viên
mới hả?”
“Chắc vậy. Nhà nó mới dọn tới
Livingston hai ba năm nay.”
“Ồ.”
Không có ngôi sao mới nào xuất
hiện, ít nhất là trong vòng năm
phút kế đó.
“Cô có nhớ tôi đã giữ kiếng cho cô
không?” tôi hỏi.
“Bây giờ nhớ rồi,” nàng nói. “Anh
cũng sống ở Livingston hả?”
“Không. Ở Newark.”
“Nhà tôi cũng sống ở Newark hồi
tôi còn nhỏ.” nàng nói.
“Cô muốn về nhà chưa?” đột nhiên
tôi thấy bực bội.
“Chưa. Cứ đi loanh quanh đã.”
Brenda đá một viên đá và đi trước
tôi một bước.
“Tại sao cô chỉ xông lên lưới sau
khi trời tối?” tôi hỏi.
Nàng quay lại phía tôi và mỉm
cười. “Anh nhận ra rồi hả? Con
Simp thì không.”
“Tại sao vậy?”
“Tôi không thích lên quá sát, trừ
khi tôi biết chắc nó sẽ không trả
đòn.”
“Sao vậy?”
“Tại cái mũi của tôi.”
“Cái gì?”
“Tôi mới đi chữa mũi.”
“Nó bị gì vậy?”
“Nó nổi mụn.”
“Nhiều lắm hả?”
“Không,” nàng nói, “Tôi đẹp rồi.
Bây giờ còn đẹp hơn. Thằng em tôi
cũng đi chữa mũi hồi mùa thu.”
“Nó cũng muốn đẹp hơn sao?”
Nàng không trả lời và tiếp tục đi
đàng trước tôi.
“Tôi không có ý cười cợt. Tôi chỉ
định hỏi tại sao cậu ta làm vậy.”
“Nó muốn làm… trừ khi nó trở
thành giáo viên thể dục… nhưng
không được đâu,” nàng nói. “Tụi
tôi đứa nào cũng giống bố.”
“Ông ấy cũng chữa mũi hả?”
“Sao anh khó chịu thế?”
“Đâu có. Xin lỗi nghe.” Câu hỏi kế
đó của tôi xuất phát từ ý muốn tỏ
ra quan tâm hơn và nhờ đó lấy lại
được vẻ lịch sự; nhưng nó không
xảy ra như mong đợi – tôi hỏi
thành tiếng hơi lớn. “Tốn hết bao
nhiêu vậy?”
Brenda sựng lại một lát nhưng rồi
nàng cũng đáp. “Ngàn đô. Nếu anh
không muốn thuê một tay bán
thịt.”
“Để tôi coi nó đáng đồng tiền bát
gạo không?”
Nàng quay lại; nàng đứng cạnh
một băng ghế và đặt vợt xuống đó.
“Nếu tôi để anh hôn thì anh có dẹp
màn ăn nói khó chịu như thế đi
không?”
Chúng tôi đã phải tiến hành quá
nhiều bước để giữ cho sự tiếp cận
không quá lôm côm, nhưng chúng
tôi cứ trôi xuôi theo ngẫu hứng và
hôn nhau. Tôi cảm thấy bàn tay
nàng trên gáy và do đó tôi kéo
nàng về phía mình, có lẽ cũng hơi
mạnh, và vuốt hai bàn tay dọc bên
sườn của nàng và vòng ra sau
lưng. Tôi sờ vào chỗ đẫm mồ hôi
trên bả vai nàng, và bên dưới lớp
da thịt ấy, tôi nhận thấy rõ, một
xao động mơ hồ, làm như có gì đó
dậy lên rất sâu trong ngực nàng,
tuốt trong sâu đến độ có thể cảm
thấy nó xuyên qua lớp áo. Nó giống
như sự xao động của những cái
cánh, những cái cánh nhỏ xíu
không lớn hơn bộ ngực nàng. Tầm
cỡ nhỏ bé của đôi cánh không làm
tôi phiền lòng – chẳng cần đến một
con đại bàng mới mang nổi tôi
vượt lên năm chục thước thối tha
này vốn từng làm những đêm mùa
hè ở Short Hills đây mát mẻ hơn
nhiều so với ở dưới Newark.
_________________________
[1]Casanova, Giovanni Jacopo
(1725-1798) Một tay phóng đãng
phiêu lưu nổi tiếng người Ý, lưu
lạc khắp châu Âu, vào tù ra khám,
vượt ngục, đổi tên, tổ chức cờ bạc,
làm gián điệp, chen vào xã hội
thượng lưu, đủ cả. Ông ta có làm
thơ, viết bộ hồi ký 12 tập rất được
chú ý vì nó mô tả chi tiết xã hội
thượng lưu thời đó. Tên ông ta
ngày nay trở thành đồng nghĩa với
“phóng đãng.”
[2]Các đại học miền đông, lãnh thổ
13 bang đầu tiên của Mỹ, mặc
nhiên được coi là đại học xịn, vượt
xa đại học ở các tiểu bang khác
vốn chỉ được coi như tỉnh lẻ. Ohio,
bối cảnh của truyện này, là một
bang miền trung tây, cũng mang số
phận tỉnh lẻ đó. Neil không ưa kiểu
phân biệt này.