XtGem Forum catalog
index
HomeGửi Yêu Cầu Truyện
Trang wap đọc truyện giải trí trên mobi
U-ON
Noi-dau-tuoi-21 4Chia tay thôi - Columbus - Philip
Roth - Chương 3
Kỳ: ... [3] 4 5 6 7 ...
Sáng hôm sau tôi tìm được một
chỗ đậu xe trên đường
Washington ngay đối diện thư
viện.
Do tới sớm hai mươi phút nên tôi
quyết định thả bộ vào công viên
hơn là băng qua đường vào làm
việc; nhất là tôi không muốn nhập
bọn với lũ đồng nghiệp, những đứa
tôi biết chắc đang ngồi nhâm nhi
cà phê ở phòng đóng bìa sách, trên
người vẫn còn bốc mùi món cam
vắt mà chúng uống cuối tuần đó ở
công viên Asbury. Tôi ngồi trên một
băng ghế và nhìn ra đường Broad
và dòng xe cộ buổi sáng. Những
chuyến xe lửa từ Lackawanna đang
rầm rì chạy qua cách đó vài khu
phố về phía bắc và tôi có thể nghe
âm thanh của chúng, tôi thầm nghĩ
– những toa xe màu xanh lá cây
tỏa nắng, cũ mà sạch, với những
cửa sổ mở suốt tuyến đường. Nhiều
buổi sáng có giờ rảnh trước khi làm
việc, tôi thường đi bộ xuống tận
đường tàu nhìn những khung cửa
mở chạy qua, trên bậu cửa là
những khủyu tay trong y phục mùa
hè và mép của những cái cặp, tài
sản của những doanh nhân đi vào
thành phố từ Maplewood, Oranges,
và những ngoại ô xa hơn nữa.
Khu công viên, giáp đường
Washington ở phía tây và đường
Broad ở phía đông, thì vắng người,
nhiều bóng râm và còn mùi cây cối,
trời đêm, và tàn tích của bọn chó;
và cũng thoang thoảng mùi ẩm ướt
nữa, chứng tỏ cái xe tưới nước tổ
bố vừa đi qua đây, chạy vội vã và
làm ướt đầm những con đường
chính. Trên đường Washington,
tuốt phía sau tôi, là Viện bảo tàng
Newark – tôi có thể thấy nó mà
không cần nhìn: hai cổ bình
phương Đông ở phía trước cứ như
ống nhổ cho một tiểu vương, và kế
đó là khu nhà phụ nhỏ mà chúng
tôi đã đi qua bằng những cỗ xe
bus riêng hồi còn học tiểu học.
Khu nhà phụ xây bằng gạch, cũ kỹ
và đầy dây leo, và luôn gợi tôi nghĩ
về mối liên quan của New Jersey
với buổi đầu của quốc gia này, với
George Washington, người đã huấn
luyện đội quân ô hợp của mình –
một tấm bảng đồng nhỏ cho lũ
nhóc học sinh chúng tôi biết như
thế- ngay trong cái công viên tôi
đang ngồi đây. Ở đầu đàng kia
công viên, xa hơn cả Viện bảo tàng,
là tòa nhà ngân hàng nơi tôi đã
học đại học. Mấy năm trước nó
được tu sửa thành một cơ sở của
Đại học Rutgers; cụ thể là, ở nơi
từng là phòng đợi chủ tịch ngân
hàng tôi đã học giáo trình Những
Vấn Đề Đạo Đức Hiện Đại. Tuy bây
giờ là mùa hè, và tôi đã rời khỏi
đại học ba năm rồi, tôi vẫn thấy dễ
dàng nhớ ra những sinh viên khác,
những bạn bè từng làm ca đêm ở
hãng Bamberger và Kresge và đã
dùng hoa hồng kiếm được nhờ đi
gạ bán những đôi giày nữ đã hết
mốt để đóng lệ phí thí nghiệm. Rồi
tôi lại nhìn ra đường Broad. Nằm
chen giữa tiệm sách có mặt kính
đầy bụi và một tiệm bán thức ăn
trưa loàng xoàng là cổng vào một
nhà hát nghệ thuật nhỏ – bao
nhiêu năm đã qua rồi kể từ thời tôi
còn đứng ở lối cổng ấy, nói láo về
năm sinh của mình để được mua
vé vào xem Hedy Lamarr bơi trần
truồng trong phim Ectasy; và rồi,
sau khi đã nhét cho tay soát vé
thêm hăm nhăm xu nữa, đã cảm
thấy thất vọng làm sao trước nét
đẹp đơn sơ của dân Slave ở cô ta…
Ngồi đó trong công viên, tôi cảm
nhận một hiểu biết sâu xa về
Newark, một sự gắn bó đã ăn sâu
đến độ nó chẳng thể làm gì khác
hơn là phát triển thành tình cảm.
Đột nhiên đã tới chín giờ và mọi
thứ vội vàng cả lên. Các cô gái gót
cao ngả nghiêng xoay theo khung
cửa quay của tòa nhà công ty điện
thoại bên kia đường, xe cộ bấm còi
cáu kỉnh, cảnh sát quát tháo và
xua xe cộ chạy hướng này hướng
kia. Ở nhà thờ St. Vincent đàng kia
những khung cửa to tướng sẫm
màu mở ra và những đôi mắt mệt
mỏi vì dậy sớm dự lễ giờ hấp háy
vì ánh sáng. Rồi những tín đồ bước
khỏi các bậc thềm nhà thờ và
phóng theo các ngả đường để đến
với những bàn giấy, tủ hồ sơ, thư
ký, cấp trên, và – nếu thượng đế
thấy thuận tiện có thể cất bớt một
ít khó nhọc cho họ- đến với cái dễ
chịu của máy điều hòa không khí
gắn bên cửa sổ của họ. Tôi đứng
dậy và băng qua đường sang thư
viện, bụng tự hỏi không biết
Brenda đã dậy chưa.
Những con sư tử xi măng đứng gác
không thuyết phục lắm trên bậc
thềm thư viện, chịu đựng sự phối
hợp giữa chứng phù chân voi với
chứng xơ cứng động mạch và tôi
sẵn sàng để ý tới chúng càng ít
càng tốt trong suốt tám tháng qua
nếu không có một chú bé da màu
đứng trước một trong những con
sư tử đó. Con sư tử đã gãy hết
những ngón chân vào mùa hè
trước do một lũ thiếu niên phá
phách, và bây giờ kẻ phá hoại mới
đang đứng trước nó, khum khum
đầu gối và đang gầm gừ. Nó sẽ
gầm gừ, trầm và dài, ngồi phịch
xuống, chờ đợi, rồi gầm gừ tiếp.
Rồi nó sẽ đứng thẳng dậy, và, lắc
đầu, nó sẽ nói với con sư tử, “Ôi
trời, mày chết nhát…” Rồi, nó lại
gầm gừ.
Một ngày bắt đầu như mọi ngày.
Từ sau bàn giấy trong sảnh chính,
tôi quan sát lũ con gái choai choai
ngực nở bước lẹ làng lên cầu thang
cẩm thạch to tướng dẫn tới phòng
đọc chính. Cái cầu thang này nhái
theo một đường cầu thang ở đâu
đó tại Versailles, tuy rằng trong
những chiếc quần bò và áo cổ lọ
các cô con gái của các vị thợ da Ý,
thợ nấu bia Ba Lan, và nhà buôn
lông thú Do Thái khó có thể là
những nữ công tước. Họ cũng
không phải Brenda, và mọi ham
muốn lóe lên trong tôi suốt một
ngày rầu rĩ chỉ là mang tính học
thuật và cho qua thời gian. Thỉnh
thoảng tôi lại coi đồng hồ, nghĩ tới
Brenda, và chờ đến bữa trưa, khi
tôi sẽ ngồi vào Bàn hướng dẫn trên
lầu còn John McKee, cái gã mới
hăm mốt mà đã đeo băng thun
quanh tay áo, sẽ lờ đờ đi xuống
tầng trệt để hì hục với việc đóng
dấu sách mượn và trả. Tên John Mc
Băng-Thun này đang học năm cuối
Đại học Sư phạm Newark nơi hắn
nghiên cứu hệ thập phân Dewey
chuẩn bị cho sự nghiệp một đời
của hắn. Thư viện không phải là sự
nghiệp trọn đời của tôi, tôi biết
thế. Tuy vậy, đã có phong thanh –
từ ông Scapello, một lão thái giám
già đã học được cách giả nói giọng
đàn ông bình thường – rằng sau kỳ
nghỉ hè tôi sẽ được giao coi sóc
Phòng tham khảo, một vị trí đã bỏ
trống kể từ buổi sáng nọ khi
Martha Winney trong Phòng bách
khoa tự điển ngã từ cái đôn cao
xuống và bị gãy hết những cái
xương mỏng manh hình thành nên
bộ phận mà ở một phụ nữ bằng
nửa tuổi bà ta chúng tôi sẽ gọi là
hông.
Tôi có những đồng nghiệp kỳ lạ ở
thư viện và, nói thật, có nhiều giờ
liền tôi hoàn toàn không biết làm
sao tôi đến được đó và tại sao
mình ở lại đó. Nhưng tôi đã ở lại
và sau một thời gian đã kiên nhẫn
chờ đợi một ngày tôi được vào
phòng nghỉ nam ở tầng chính để
hút một điếu thuốc và ngắm nghía
mình trong khi thổi khói thuốc vào
mặt gương, được thấy rằng vào lúc
nào đó trong buổi sáng mình tái
nhợt đi, và thấy dưới lớp da của
tôi, cũng như của McKee với
Scapello và bà Winney, đã có một
lớp đệm khí mỏng tách máu ra khỏi
da thịt. Có ai đó đã bơm khí vào đó
khi tôi đóng dấu cho mượn sách, và
thế là cuộc sống từ nay sẽ chẳng
còn là chuyện bỏ đi, như đối với dì
Gladys, và cũng chẳng phải chuyện
giành được, như với Brenda, mà là
chuyện văng từ chỗ này sang chỗ
kia, một sự đờ đẫn. Tôi bắt đầu
thấy sợ điều này, tuy rằng, trong
sự chú ý không chút sinh lực dành
cho công việc, tôi hình như nhích
dần tới điều đó, một cách lặng lẽ,
như bà Winney vẫn thường nhích
đến bộ Britanica. Cái đôn của bà
hiện bỏ trống và đang chờ tôi.
Ngay trước giờ ăn trưa, cậu nhỏ
luyện sư tử đá mở to mắt bước vào
thư viện. Cậu đứng yên một lát,
chỉ có những ngón tay động đậy,
làm như đang đếm những bậc cầu
thang đá hoa trước mặt. Rồi cậu e
dè bước đi loanh quanh trên nền
đá hoa, cười khùng khục với tiếng
đế giày lạch cạch của cậu và cái
kiểu những âm thanh nho nhỏ ấy
vọng lên tới trần vòm của đại
sảnh. Otto, ông bảo vệ ở cửa, bảo
cậu đừng để giày kêu như thế,
nhưng chuyện đó coi bộ không
phiền gì cậu. Cậu vẫn kêu lộp cộp
khi nhón gót cao lên, một cách
lặng lẽ, khoái chí với cơ hội mà
Otto đã cho cậu để tập luyện tư
thế này. Cậu ta rón rén tới chỗ tôi.
“Nè,” cậu nói, “khu tim ở đâu?”
“Khu gì?” tôi hỏi.
“Khu tim. Đây không có khu tim à?”
Cậu nói giọng miền nam đặc sệt và
âm duy nhất tôi nghe rõ là âm
nghe như chữ tim.
“Đánh vần chữ đó làm sao?” tôi
nói.
“Thì tờ im tim. Trời đất, hình vẽ
đó. Sách có hình vẽ. Thứ đó để
đâu?”
“Cậu muốn nói sách hội họa. In lại
họa phẩm hả?”
Cậu ta đồng ý ngay với thuật ngữ
loằng ngoằng của tôi. “Ờ, nó đó.”
“Ở vài ba chỗ lận,” tôi bảo cậu.
“Cậu muốn xem họa sĩ nào?”
Cậu ta nheo mắt lại khiến cả khuôn
mặt chỉ còn là màu đen. Cậu giật
lui ra, như khi đứng trước con sư
tử. “Tất cả bọn họ…” cậu làu bàu.
“Được rồi,” tôi nói. “Cậu cứ đi xem
bất cứ họa sĩ nào cậu muốn. Theo
cầu thang kế lên trên. Đi theo mũi
tên đến chỗ ghi Dãy Ba. Nhớ
không? Dãy Ba. Lên lầu rồi hỏi.”
Cậu ta chẳng nhúc nhích; có vẻ cậu
ta đang xem sự tò mò của tôi về đề
tài tìm hiểu của cậu như một kiểu
điều tra thuế thân. “Đi đi,” tôi nói,
bày ra một nụ cười trên khuôn mặt,
“ngay trên kia…”
Và như một phát đạn cậu ta len lỏi
và lộp cộp đi lên khu tim.
Sau bữa trưa tôi trở lại bàn mượn
và trả sách và John McKee đã chờ
sẵn ở đó trong áo sơ mi đeo băng
thun, quần xanh nhạt và giày đen,
và một cà vạt đan lớn, màu xanh lá
cây, thắt kiểu Winsor thành cái nút
to tướng cứ giật tưng tưng khi hắn
ta nói chuyện. Hơi thở hắn thì sặc
mùi dầu chải tóc còn tóc hắn sặc
mùi hơi thở và khi hắn nói, nước
bọt tụ lại ở khoé miệng. Tôi không
ưa hắn và có những lúc tôi có thôi
thúc muốn kéo giãn sợi băng thun
và bắn hắn đi như bắn bằng dàn
thun bay qua chỗ Otto và những
con sư tử ra tới ngoài đường.
“Có thấy một cậu bé da đen ra khỏi
đây không? Có giọng nói rất khó
nghe? Nó chúi đầu vào sách nghệ
thuật suốt sáng nay. Ông biết
những đứa như vậy thường làm gì
trong đó mà.”
“Tôi có thấy nó đi vào, John.”
“Tôi cũng thấy. Nhưng vấn đề là nó
ra chưa kìa.”
“Tôi không để ý. Chắc ra rồi.”
“Thứ sách đó rất đắt tiền.”
“Đừng ưu tư như vậy, John. Mình
biết người ta đương nhiên sẽ lục
lọi sách mà.”
“Thì lục lọi,” John nói một cách
nghiêm trọng, “lúc nào cũng lục
lọi. Phải có ai coi chừng nó chứ.
Tôi không dám rời khỏi bàn này.
Ông biết họ cư xử thế nào với
những dự án gia cư chúng ta dành
cho họ mà.”
“Ông dành cho họ hả?”
“Thành phố chứ. Ông thấy họ làm
gì ở Seth Boyden không? Họ vất
đầy những chai bia, thứ lớn đó, ra
bãi cỏ. Họ chiếm cả thành phố này
mất.”
“Chỉ những khu da đen thôi.”
“Cười thì dễ lắm. Ông đâu có sống
gần họ. Tôi sẽ báo cho văn phòng
ông Scapello để kiểm tra khu nghệ
thuật. Ông ấy từng tìm ra chỗ nào
về nghệ thuật nhỉ?”
“Ông sẽ làm ông Scapello loét bao
tử mất, ngay khi ông ấy vừa ăn
sandwich với trứng có rắc tiêu. Để
tôi đi kiểm tra, đằng nào tôi cũng
phải lên lầu mà.”
“Ông biết là chúng vẫn làm gì
trong đó mà.” John nhắc chừng tôi.
“Đừng lo, Johnny, đó là những
người có chai sần đầy tay.”
“Hơ hơ. Mấy cuốn sách đó lại đắt
đến…”
Vậy là ông Scapello sẽ không ghé
vào chỗ cậu bé với những ngón tay
đầy phấn, tôi leo ba cầu thang lên
Dãy Ba, qua phòng tiếp nhận sách,
nơi Jimmy Boylen mắt kèm nhèm,
một ông năm mươi mốt tuổi, đang
chất sách từ một xe đẩy xuống; đi
qua phòng đọc, nơi dân lang thang
của phố Mulberry ngủ gục trên
những tờ Popular Mechanics; qua
hành lang hút thuốc nơi những
sinh viên trường luật trán rịn mồ
hôi ngồi xả hơi, một số hút thuốc,
số khác đang cố chùi thuốc màu
dính trên ngón tay từ các giáo
trình về tội phạm; và sau cùng, đi
qua phòng tạp chí, nơi có mấy bà
già được chở từ Upper Montclair
xuống hiện đang co người trên ghế,
rà kiếng trên những trang tin về
giới thượng lưu của tờ Newark
News cũ xì vàng ố. Tới Dãy Ba tôi
thấy cậu bé. Cậu ngồi bệt dưới sàn
giữ một cuốn sách rộng mở trên
lòng, một cuốn sách, thực tình, còn
bự hơn lòng cậu và cậu phải dùng
hai đầu gối chõi nó lên. Với ánh
sáng từ cửa sổ phía sau cậu tôi có
thể thấy hằng trăm khoảng trống
chen giữa hằng trăm những sợi tóc
loăn xoăn lò xo của cậu. Cậu rất
đen và bóng và đôi môi của cậu
không có vẻ mang một màu khác
mà nó trông như chưa hoàn tất và
còn chờ tu sửa thêm. Đôi môi ấy
hở ra, đôi mắt mở rộng, và ngay cả
đôi tai coi bộ cũng có độ tiếp nhận
cao. Cậu trông cực kỳ khoái chí –
tức là, cho đến khi nhìn thấy tôi. Vì
cậu cứ ngỡ tôi là John McKee.
“Được rồi,” tôi nói trước khi cậu kịp
cử động, “tôi chỉ đi ngang qua đây
thôi. Cứ đọc đi.”
“Có gì đâu mà đọc. Toàn là hình.”
“Tốt.” Tôi xem xét loanh quanh
những tầng kệ thấp nhất trong một
lát, giả như đang làm việc.
“Này, ông ơi,” lát sau cậu ta kêu,
“cái này ở đâu?”
“Cái gì ở đâu?”
“Những hình này ở đâu? Những
người này, trời, coi họ lì thiệt. Họ
không kêu la gì hết trơn, ông coi
nè.”
Cậu giơ cuốn sách cho tôi xem. Đó
là một cuốn sách khổ lớn đắt tiền
in lại tranh Gauguin. Trang cậu
đang xem có in màu một bức tranh
vẽ ba phụ nữ bản xứ đứng lộâi tới
gối trong một dòng nước màu hoa
hồng. Đó vốn là một bức tranh im
lặng, cậu ta nói đúng.
“Đó là Tahiti. Một hòn đảo ở Thái
Bình Dương.”
“Không phải chỗ mình tới được,
đúng không? Giống một điểm du
lịch hả?”
“Tới được chứ, tôi nghĩ thế. Nó xa
lắm. Người ta sống ở đó…”
“Nè, coi nè, coi cái này nè.” Cậu lật
ngược tới một trang có một thiếu
nữ da nâu đang khom người tới
trước, như đang hong tóc. “Trời,”
cậu ta nói, “Thật là một cuộc đời
chó đẻ.” Nỗi hào hứng trong lối ăn
nói của cậu hẳn sẽ khiến cậu bị
cấm cửa vĩnh viễn đối với Thư viện
công cộng Newark và các chi nhánh
của nó nếu như John hoặc ông
Scapello – hoặc, xin Chúa thương,
bà Winney nằm nhà thương – là
người đi kiểm tra.
“Ai chụp những hình này vậy?” cậu
hỏi tôi.
“Gauguin. Ông ta không có chụp,
mà vẽ đấy. Paul Gauguin. Ông ta
người Pháp.”
“Ông ấy da trắng hay da màu?”
“Ông ấy da trắng.”
“Trời trời,” cậu mỉm cười, gần như
khúc khích thành tiếng, “Tôi hiểu
rồi. Ông ta không chụp hình như
người da trắng thường làm. Ông ta
chụp hình giỏi đấy… Coi cà, coi cà,
coi hình này nè. Cuộc đời vầy
không chó đẻ quá sao?”
Tôi đồng ý nó là thế và bỏ đi.
Lát sau tôi nhờ Jimmy Boylen
phóng xuống thang để cho McKee
hay rằng mọi chuyện đều ổn. Rồi
hết ngày đó cũng chẳng có chuyện
gì. Tôi ngồi ở Bàn hướng dẫn nghĩ
về Brenda và tự nhắc mình rằng tối
hôm đó tôi phải đổ xăng trước khi
đi Short Hills, nơi mà bây giờ tôi
thấy rõ, bằng con mắt trí nhớ, đang
lúc hoàng hôn, đỏ quạch màu hoa
hồng, như một dòng nước của
Gauguin.
* * *
Khi tôi đậu xe trước nhà Patimkin
tối hôm đó, mọi người, ngoại trừ
Julie, đang đợi tôi ở hàng hiên:
ông bà chủ nhà, Ron, và Brenda,
mặc một cái váy dài. Trước đây tôi
chưa từng thấy nàng mặc váy dài
và trong thoáng chốc nàng trông
không giống cô gái tôi quen nữa.
Nhưng đó mới chỉ là một nửa nỗi
ngạc nhiên. Có quá nhiều sinh viên
nữ té ra có giò cẳng chỉ để mặc
soóc. Brenda thì không. Trong
chiếc váy, trông nàng cứ như cả
đời chỉ ăn mặc như thế, như thể
nàng chưa từng mặc soóc, hay đồ
tắm, hay áo ngủ, hay bất cứ gì khác
ngoài cái váy vải gai màu nhạt ấy.
Tôi bước đi hơi hăng hái ngược lên
vuông cỏ, qua chỗ cây liễu già rũ
nhánh, về phía nhà Patimkin đang
đứng chờø mà lòng cứ áy náy phải
chi mình đã đem xe đi rửa. Tôi
chưa đến được chỗ họ thì Ron đã
bước xuống và bắt tay tôi, nồng
nhiệt, cứ như anh ta không được
gặp tôi kể từ thời Diaspora.[1] Bà
Patimkin mỉm cười còn ông
Patimkin ậm ừ điều gì đó và cứ giật
giật cổ tay, rồi giơ lên một cây gậy
đánh golf tưởng tượng và quất
bóng ma của một trái banh golf
bay về phía dãy núi Orange, tôi tin
rằng nó được gọi là Orange (màu
cam) vì trong ánh sáng ngoại ô rất
hay thay đổi này thì đó là màu duy
nhất mà dãy núi đó không có.
“Nhà em sẽ về liền,” Brenda nói với
tôi. “Anh coi chừng Julie. Carlota
hôm nay nghỉ.”
“Được mà,” tôi nói.
“Nhà em đưa Ron ra phi trường.”
“Được.”
“Julie không muốn đi. Nó nói chiều
nay Ron đẩy nó trong hồ tắm. Nhà
em đã chờ anh đến, để khỏi trễ
chuyến bay của Ron. Được chứ?”
“Được.” Ông bà Patimkin và Ron đã
cho xe chạy ra, và tôi cho Brenda
một cái nhìn tỏ ý bực bội. Nàng
thò tay ra cầm lấy tay tôi một lúc.
“Em thích em cỡ nào?” nàng nói.
“Được chăm sóc em thì quá tuyệt.
Anh có được dùng mọi thứ sữa và
bánh tùy ý không?”
“Đừng bực, cưng. Nhà em sẽ về
liền mà.” Rồi nàng đợi một lát, và
khi thấy tôi không xẹp được cái chu
mỏ bực bội, nàng cũng cho tôi một
cái nhìn tóe lửa luôn, chẳng úp mở
gì cả. “Em muốn nói anh thích em
cỡ nào trong cái váy này!” Rồi nàng
chạy về phía chiếc Chrysler, lóc cóc
trên đôi gót cao như một con ngựa
non.
Sau khi bước vào nhà, tôi sập
khung cửa lưới cái rầm sau lưng
mình.
“Đóng cửa ngoài lại luôn,” một
giọng trẻ con la lên. “Có máy lạnh
mà.”
Tôi vâng lời đóng luôn cửa ngoài.
“Neil hả?” Julie kêu.
“Ờ.”
“Chào anh. Chơi bóng rổ nghe?”
“Thôi.”
“Sao vậy?”
Tôi không đáp.
“Em ở phòng tivi nè,” cô bé kêu
lên.
“Tốt.”
“Anh được giao ở nhà với em hả?”
“Ờ.”
Cô bé bất ngờ xuất hiện ở ngõ
phòng ăn. “Muốn đọc bài tóm lược
sách của em không?”
“Bây giờ thì không.”
“Thế anh muốn làm gì?” nó hỏi.
“Chẳng gì cả, bé ạ. Sao em không
coi tivi đi?”
“Được rồi,” nó nói với vẻ bực bội,
và dằn dỗi đi trở lại phòng tivi.
Tôi đứng một lát trong tiền sảnh,
quay quắt với ý muốn lặng lẽ ra
khỏi căn nhà, chui vào xe, và trở về
Newark, nơi tôi có lẽ chỉ ngồi trong
lối ngõ công viên và nhai kẹo một
mình. Tôi cảm thấy giống Carlota;
không, thậm chí cũng không được
thoải mái như thế. Sau cùng tôi rời
tiền sảnh và bắt đầu đi vô đi ra
khắp các phòng ở tầng trệt. Cạnh
phòng khách là một phòng nghiên
cứu, một căn phòng lót ván thông
thô đầy những ghế vuông bọc da
và toàn tập bộ Information Please
Almanacs. Trên tường có ba bức vẽ
theo ảnh chụp; đó là loại tranh,
bất kể đề tài là ai, dù họ khoẻ
mạnh hay ốm yếu, già hay trẻ, thì
đều có đặc trưng là má phính, môi
mọng, răng trắng tinh, và mái tóc
sáng bóng, như kim loại. Đề tài
trong trường hợp này là Ron,
Brenda và Julie vào khoảng mười
bốn, mười ba và hai tuổi. Brenda
có mái tóc nâu dài, cái mũi có khối
kim cương, và không đeo kính; tất
cả kết hợp lại để làm nàng trông
cứ như một cô gái hoàng tộc mười
ba tuổi vừa mới biết buồn. Ron
trông mập hơn và đường chân tóc
thấp hơn, nhưng lòng yêu mến các
vật thể hình cầu và những sân
chơi có đường biên đã nhấp nháy
trong đôi mắt trẻ thơ của cậu ấy.
Cô bé Julie biến mất tiu trong
quan niệm quá lý tưởng về tuổi
thơ của người vẽ; chút xíu chất
người của cô bé bị bóp chết ngạt
đâu đó đàng sau những mảng màu
hồng và trắng.
Quanh đó còn có những bức ảnh
khác, nhỏ hơn, chụp bằng máy
Brownie Reflex trước khi trò vẽ theo
ảnh chụp trở thành thời thượng.
Có một bức nhỏ chụp Brenda trên
lưng ngựa, một bức khác chụp Ron
trong bộ đồ ngày lễ thêm sức của
trẻ con Do Thái, với khăn quấn đầu
và áo chùng, và hai ảnh trong cùng
một khung – gồm một ảnh phụ nữ
xinh đẹp, đã phai màu, mà nhìn
đôi mắt tôi đoán chắc là mẹ bà
Patimkin, và ảnh kia chính là bà
Patimkin, mái tóc có quầng sáng,
đôi mắt vui vẻ chứ không như đôi
mắt hiện nay của một bà mẹ đứng
tuổi chậm chạp có đứa con gái
nhanh nhẹn và dễ thương.
Tôi đi qua một cửa vòm để vào
phòng ăn và đứng một lát nhìn ra
cái cây dụng cụ thể thao. Từ
phòng tivi sát cạnh phòng ăn, tôi
nghe thấy Julie đang xem chương
trình This Is Your Life. Căn bếp ở
mé kia phòng ăn chẳng có ai, và rõ
ràng, khi Carlota vắng mặt, nhà
Patimkin đã ăn tối ở câu lạc bộ.
Phòng ngủ của ông bà Patimkin ở
giữa toà nhà, kế tiền sảnh, cạnh
phòng ngủ của Julie, và trong
thoáng chốc tôi muốn biết hai ông
bà bự con ấy ngủ trên cái giường
cỡ nào – tôi tưởng tượng nó rộng và
sâu như cái hồ bơi – nhưng tôi
phải hủy cuộc tuần tra vì Julie có
nhà, và thay vào đó tôi mở cánh
cửa trong bếp dẫn xuống tầng
hầm.
Tầng hầm có kiểu mát mẻ khác hẳn
ngôi nhà, và nó có một mùi, thứ
mùi gì đó bên trên không hề có.
Dưới đây có vẻ như hang hốc,
nhưng hang hốc một cách dễ chịu,
tựa như những cái hang nhà chòi
mà trẻ con dựng cho chúng trong
những ngày mưa, trong phòng xép,
chui trong chăn, hoặc dưới gầm
bàn ăn. Tôi bật ngọn đèn dưới
chân thang và không ngạc nhiên
trước lớp vách ván thông, những
đồ đạc bằng tre, bàn bóng bàn và
một quầy rượu gắn gương chất đủ
cỡ đủ loại ly, xô đá, chai chắt rượu,
bình pha rượu, que quấy rượu, ly
đong rượu, tô đựng bánh qui – đủ
các thứ phụ tùng nhậu nhẹt, tràn
ngập, ngăn nắp, và không ai đụng
đến, như chỉ có thể thấy ở quầy
rượu của một kẻ nhà giàu chẳng
bao giờ chiêu đãi dân nhậu mà
chính y cũng không uống rượu, kẻ
mà trong thực tế lãnh một cái nhìn
nghi ngờ của bà vợ khi vài tháng
một lần y làm một ngụm rượu mùi
trước bữa ăn. Tôi đi vào sau quầy
trong đó có một cái bồn rửa bằng
nhôm mà nó chưa từng được nhận
cái ly bẩn nào, tôi chắc chắn thế,
kể từ ngày làm lễ thêm sức cho
Ron, và có lẽ sẽ không nhận được
cái ly nào nữa cho đến ngày mấy
đứa con nhà Patimkin kết hôn hoặc
đính hôn. Có thể tôi đã tự rót cho
mình một ly – coi như một thứ thù
lao quái qủy cho việc bị buộc phải
làm thân giữ nhà – nhưng tôi
không khoái việc gỡ niêm trên một
chai whisky. Bạn phải gỡ niêm mới
có được một cốc rượu. Trên kệ sau
quầy có cỡ hai tá – chính xác là hai
mươi ba- chai Jack Daniels, mỗi
chai có một tờ bướm cột ở cổ chai
cho người làm chủ chai rượu biết
họ sang trọng cỡ nào khi uống thứ
rượu này. Và phía trên mớ Jack
Daniels lại có mấy bức ảnh nữa:
một bản photo phóng to bức hình
trên báo chụp Ron đang chặn một
trái bóng rổ như một trái nho; dưới
bức hình có chú thích, “Trung
phong, Ronald Patimkin, Trung học
Millburn, 6 ft. 4 inch, 217 cân
Anh.” Lại có một bức khác chụp
Brenda trên lưng ngựa, và kế đó có
một tấm ván bọc nhung có đính
nhiều băng vải và huy chương:
Triển lãm ngựa Hạt Essex 1949,
Triển lãm ngựa Hạt Union 1950,
Hội chợ Garden State 1952, Triển
lãm ngựa Morristown 1953, đại loại
như thế – tất cả là cho Brenda, vì
đã nhảy, chạy hoặc phóng ngựa
hoặc bất cứ trò gì các cô vẫn làm
để đoạt được các loại băng vải.
Trong cả cái nhà này tôi chẳng thấy
bức ảnh nào của ông Patimkin.
Phần còn lại của căn hầm, đàng
sau căn phòng lót ván thông, là
vách tường xi măng và nền trải vải
bạt và chứa rất nhiều dụng cụ
điện, trong đó có cả một tủ ướp
lạnh to tướng đủ chứa cả một gia
đình Eskimo. Cạnh cái tủ đó là một
tủ lạnh cao đã cũ; sự có mặt lâu
đời của nó nhắc tôi nhớ đến cội rễ
của nhà Patimkin ở Newark. Chính
cái tủ lạnh này đã từng đứng trong
bếp của một căn hộ trong một ngôi
nhà dành cho bốn gia đình nào đó,
có lẽ ngay trong khu tôi đã sống cả
đời mình, đầu tiên là với bố mẹ tôi
và rồi, khi hai người đó biến đi
Arizona, thì tôi sống với chú dì của
tôi. Sau vụ Trân Châu Cảng, cái tủ
lạnh đã chuyển tới Short Hills; sản
phẩm Bồn Rửa và Bồn Tắm
Patimkin đã tham gia chiến tranh;
không dãy nhà trú quân mới nào là
hoàn tất trước khi có được một tiểu
đội bồn tắm Patimkin xếp ngay
ngắn trong khu vệ sinh của nó.
Tôi mở cánh cửa của cái tủ lạnh
cũ; nó không trống rỗng. Nó không
còn chứa bơ, trứng, cá trích với sốt
kem, bia, rau trộn cá hồi, một bó
hoa nhỏ nhân dịp nào đó nữa,
nhưng nó chất cả đống trái cây,
tầng nào cũng đầy ứ, đủ màu, đủ
vẻ, và giấu bên trong là đủ loại
hột. Có mận lục, mận đen, mận đỏ,
mơ, xuân đào, đào, những chùm
nho dài, đen, vàng , đỏ và anh đào,
anh đào tràn từ hộp ra và vấy bẩn
mọi thứ với màu tía của nó. Lại
còn có dưa nữa – dưa đỏ và dưa bở
– và ở tầng trên cùng là nửa trái
dưa hấu to đùng, một tờ giấy sáp
mỏng dán sát vào bề mặt đỏ lự của
nó như một cặp môi ướt. Ôi
Patimkin! Trái cây mọc trong tủ
lạnh nhà họ và dụng cụ thể thao
rụng từ trên cây xuống!
Tôi bốc một nắm anh đào rồi thêm
một quả xuân đào, và cắn một phát
vào tới tận hột.
“Anh phải rửa trước nếu không là
bị tiêu chảy đó.”
Julie đang đứng sau lưng tôi trong
căn phòng vách ván. Nó mặc quần
bò Bermuda và áo thun trắng của
nó, bộ này không giống bộ của
Brenda chỉ vì trong đó nó có chút
tiểu sử ăn kiêng của riêng nó.
“Cái gì?” tôi hỏi.
“Mớ này chưa rửa,” Julie nói, và với
một kiểu như muốn đặt cái tủ lạnh
vào khu vực cấm lai vãng, có điều
là chỉ với tôi thôi.
“Cũng được thôi.” Tôi nói, và ăn
hết trái xuân đào, bỏ hột vào túi
và bước ra khỏi phòng để tủ lạnh,
tất cả chỉ trong một giây. Tôi vẫn
chưa biết phải làm gì với mớ anh
đào. “Anh chỉ đi xem quanh quẩn
thôi,” tôi nói.
Julie không đáp.
“Ron đi đâu vậy?” tôi hỏi, bỏ mớ
anh đào vào túi, chung với mớ chìa
khóa và tiền lẻ.
“Miwaukee.”
“Đi bao lâu?”
“Đi thăm Harriet. Hai người yêu
nhau.”
Chúng tôi nhìn nhau lâu hơn mức
tôi có thể chịu đựng. “Harriet hả?”
tôi hỏi.
“Ừ.”
Julie nhìn tôi cứ như nó đang cố
nhìn ra sau lưng tôi, và tôi nhận ra
tôi đang đứng cắp tay sau đít. Tôi
bèn đưa hai tay ra trước, và, tôi
thề đó, nó đã dòm lom lom xem hai
tay tôi có cầm gì không.
Chúng tôi lại đối mặt nhau; nó
hình như có nét đe dọa trên khuôn
mặt.
Rồi nó nói. “Muốn chơi bóng bàn
không?”
“Ồ, muốn chứ,” tôi nói và phóng
hai bước dài tới bàn bóng. “Em
giao banh đi.”
Julie mỉm cười và chúng tôi bắt
đầu chơi.
Tôi không có gì để bào chữa cho
chuyện xảy ra kế đó. Tôi bắt đầu
thắng và khoái tợn.
“Cho em đánh lại cú này nghe?”
Julie nói. “Hôm qua em bị đau
ngón tay rồi khi giao banh nó đau
lại.”
“Không được.”
Tôi tiếp tục thắng.
“Vậy là không công bằng, Neil. Dây
giày em tuột ra rồi. Cho em đánh
lại…”
“Không.”
Chúng tôi chơi, còn tôi chơi một
cách hung hãn.
“Neil, anh tựa vào bàn. Vậy là
phạm luật…”
“Anh không tựa và nó không phạm
luật.”
Tôi cảm thấy mớ anh đào nhảy
tưng tưng bên những đồng xu
đồng hào của tôi.
“Neil, anh ăn gian em một điểm.
Anh mười chín còn em mười một…”
“Hai mươi - mười,” tôi nói. “Giao
đi!”
Nógiao banh và tôi quật banh trở
lại bay quá chỗ con bé – trái banh
bay khỏi bàn và vụt vào phòng tủ
lạnh.
“Anh ăn gian!” nó gào vào mặt tôi.
“Anh ăn gian!” Quai hàm nó run
run cứ như nó đang đội một vật
nặng trên cái đầu xinh xắn. “Em
ghét anh!” Và nó ném vụt cái vợt
đi, cây vợt đụng quầy rượu rơi
xuống ngay lúc, ở bên ngoài, tôi
nghe tiếng chiếc Chrysler cán sỏi
lạo xạo trên lối xe chạy.
“Chưa hết ván mà,” tôi nói với nó.
“Anh ăn gian! Mà anh còn ăn cắp
trái cây nữa!” nó nói, và bỏ chạy đi
trước khi tôi kịp thắng ván đấu.
* * *
Khuya đó, Brenda với tôi làm tình,
lần đầu tiên. Chúng tôi đang ngồi
trên trường kỷ trong phòng tivi và
chẳng nói với nhau lời nào trong
khoảng mười phút. Julie đã đi ngủ
một giấc đầy nước mắt từ lâu, và
tuy chẳng ai nói gì với tôi về việc
nó khóc lóc, tôi cũng không biết nó
có mách chuyện tôi bốc một nắm
anh đào không, mà cái mớ đó hồi
nãy tôi đã cho vào bồn cầu và giật
nước cho trôi sạch.
Cái tivi vẫn mở và tuy âm thanh đã
bị bật câm và căn nhà yên lặng,
những hình ảnh xám vẫn nhảy múa
ở tuốt cuối phòng. Brenda im lặng
và cái váy của nàng phủ quanh cặp
giò xếp kín bên dưới. Chúng tôi
ngồi im re ở đó một hồi. Rồi nàng
vào bếp và khi trở ra nàng bảo
nghe chừng cả nhà đã ngủ hết rồi.
Chúng tôi ngồi tiếp một lát nữa,
xem những nhân vật vô thanh trên
màn hình đang dùng một bữa tối
câm lặng trong một nhà hàng câm
lặng của ai đó. Khi tôi bắt đầu cởi
nút chiếc váy nàng đã kháng cự, và
tôi thích nghĩ rằng đó là do nàng
biết mình mặc chiếc váy ấy thì
trông dễ thương đến cỡ nào.
Nhưng Brenda của tôi, dù gì trông
cũng dễ thương như thường, và hai
đứa xếp nó lại cẩn thận và ôm
nhau quấn quít và rồi chúng tôi
như thế, Brenda ngả xuống, chậm
rãi nhưng với một nụ cười, còn tôi
chồm lên.
Làm sao tôi diễn tả được việc yêu
Brenda? Nó thật ngọt ngào, cứ như
sau cùng tôi đã ghi được điểm thứ
hăm mốt đó.
Khi về tới nhà tôi quay số Brenda,
nhưng bà dì tôi đã kịp nghe thấy
và ra khỏi giường.
“Giờ này mà mày kêu ai vậy? Bác sĩ
hả?”
“Không.”
“Vậy gọi điện gì lúc một giờ khuya
vậy?”
“Shhh!” tôi nói.
“Nó shhh với tôi kìa. Gọi điện lúc
một giờ khuya, hóa đơn điện thoại
chưa đủ nặng chắc,” rồi bà lại loẹt
quẹt vào giường, ở đó với tấm lòng
tử vì đạo và đôi mắt nhoè nhoẹt bà
đã chống lại cơn buồn ngủ ập
xuống cho đến khi nghe tiếng chìa
khóa của tôi ở cửa.
Brenda trả lời điện thoại.
“Neil hả?”
“Ừ,” tôi thì thào. “Em không ra khỏi
giường, phải không?”
“Không,” nàng nói, “điện thoại
ngay cạnh giường.”
“Tốt. Ngủ được không?”
“Ngon. Anh lên giường chưa?”
“Rồi,” tôi nói xạo, và cố sửa chữa
bằng cách cầm dây kéo điện thoại
lại gần phòng ngủ của tôi đến hết
mức có thể.
“Em cũng ở trên giường với anh,”
nàng nói.
“Đúng,” tôi nói, “anh cũng ở bên
em.”
“Em đã kéo rèm xuống, nên tối hù
và em không nhìn thấy anh.”
“Anh cũng không nhìn thấy em.”
“Vậy là tuyệt quá, Neil.”
“Ừ. Ngủ đi, cưng, anh ở đây đây.”
Và chúng tôi gác máy mà không nói
tạm biệt. Đến sáng, theo kế hoạch,
tôi gọi lại, nhưng tôi khó mà nghe
được tiếng của Brenda hay chính
tôi, vì dì Gladys với chú Max định
dự một buổi dã ngoại của Hội
Workmen’s Circle vào chiều hôm đó,
và có chuyện om sòm gì đó về mớ
nước nho từ một cái bình trong tủ
lạnh đã chảy suốt đêm và đến sáng
thì nó đã rỉ xuống tới sàn. Brenda
vẫn còn trên giường và do đó có
thể ít nhiều chơi được trò chơi của
chúng tôi, còn tôi phải kéo rèm che
kín mọi giác quan để tưởng tượng
tôi đang ở bên nàng. Tôi chỉ còn
nước cầu mong những tối những
sáng của tụi tôi sẽ đến, và chúng
đã đến ngay.
_________________________
[1] Diaspora: cuộc phân tán dân
Do Thái sau thời kỳ lưu đày ở
Babylone, theo Cựu Ước.