
Chia tay thôi - Columbus - Philip
Roth - Chương 4
Kỳ: ... 3 [4] 5 6 7 ...
Rồi cậu sẽ vào trong, đi lộp cộp ở
sảnh chính cho đến khi Otto trừng
mắt khiến cậu phải nhón gót lên,
và sau cùng leo hết cái cầu thang
đá hoa dẫn tới Tahiti của cậu.
Không phải lúc nào cậu cũng ở tới
tận trưa, nhưng một ngày rất nóng
nực nọ cậu đã ở đó khi tôi đến vào
buổi sáng và theo tôi bước ra khỏi
cửa khi tôi ra về vào buổi tối. Sáng
hôm sau, té ra, cậu không ló mặt
tới, và cứ như để thế chỗ cậu, một
ông rất già xuất hiện, da trắng, bốc
mùi thuốc Life Savers, mũi và quai
hàm ông ta lộ rõ những mạch máu
dưới da. “Cậu chỉ giùm khu sách
nghệ thuật được không?”
“Dãy Ba,” tôi nói.
Vài phút sau, ông ta trở lại với một
cuốn sách lớn bìa nâu trong tay.
Oâng ta đặt nó lên bàn của tôi, rút
tấm thẻ thư viện trong một cái ví
dài lâu nay chẳng còn đựng tiền
bạc gì và chờ tôi đóng dấu cho
mượn.
“Ông muốn mượn cuốn này về à?”
tôi hỏi.
Ông ta mỉm cười.
Tôi cầm thẻ của ông ta và nhét
phần mép bọc kim loại vào máy
đóng dấu, nhưng tôi không dập
máy. “Khoan đã,” tôi nói. Rồi lấy ra
một xấp hồ sơ dưới hộc bàn và làm
bộ lật lật vài trang, trên đó chỉ vẽ
mấy trò chơi bắn tàu và cờ ca rô tôi
vẫn chơi một mình trong tuần. “Tôi
e rằng nó bị giữ trước rồi.”
“Tức là sao?”
“Giữ trước. Có người gọi tới và yêu
cầu chúng tôi giữ cuốn này cho họ.
Hay để tôi ghi tên và địa chỉ của
ông và gửi phiếu khi nó được trả
về…”
Và thế là tôi có thể đưa cuốn sách
về chỗ của nó, tuy cũng phải đỏ
mặt một hai phát. Sau đó khi cậu
bé da đen xuất hiện, nó đã nằm
nguyên ở chỗ cậu bỏ lại vào chiều
hôm trước.
Còn về Brenda, tôi gặp nàng mỗi
tối và khi không có trận đấu đêm
nào khiến ông Patimkin phải thức
coi trong phòng tivi, hoặc một sòng
bài nào đó lôi bà Patimkin ra khỏi
nhà và chỉ về nhà vào những giờ
không đoán trước được, thì chúng
tôi làm tình trước màn hình tivi
câm lặng. Một tối trời thấp nóng
ẩm nọ Brenda rủ tôi đi bơi ở câu
lạc bộ. Chỉ có hai chúng tôi ở hồ,
và tất cả những ghế gổng, đèn
đóm, bạt dù, ván nhảy cầu và ngay
cả mặt nước hình như tồn tại chỉ
để chúng tôi vui thôi. Nàng mặc
một bộ đồ xanh dương mà dưới
ánh đèn trông cứ như tím và khi ở
dưới nước nó ánh lên lúc thì màu
xanh lá cây lúc thì đen. Về khuya
một cơn gió nhẹ từ sân golf thổi
lên và chúng tôi cuộn chung một
tấm khăn tắm lớn, kéo hai cái ghế
dài lại cạnh nhau, và mặc kệ tay
đứng quầy rượu cứ đi đi lại lại
suốt bên cửa sổ quán bar nhìn ra
hồ, chúng tôi vẫn cứ nằm bên
nhau trên ghế. Sau cùng ngọn đèn
trong quán cũng tắt, và rồi, tách
một tiếng, những đèn quanh hồ
cũng tắt luôn. Tim tôi chắc là đập
nhanh hơn, hay cái gì đó, vì
Brenda hình như đoán ra nỗi e dè
đột nhiên của tôi – mình phải về
thôi, tôi nghĩ.
Nàng nói: “Thế được đấy.”
Chung quanh tối mò, bầu trời thấp
và không ánh sao, phải mất một lúc
tôi mới nhìn rõ được tấm ván nhảy
hơi sáng hơn trời đêm, và phân
biệt được mặt nước với những ghế
gổng xếp quanh mé bên kia hồ.
Tôi kéo quai áo tắm của nàng
xuống nhưng nàng bảo đừng và lăn
cách khỏi tôi vài phân, và lần đầu
tiên trong hai tuần qua tôi thấy
nàng hỏi một câu về đời riêng của
tôi.
“Bố mẹ anh đâu?” nàng hỏi.
“Ở Tuscon,” tôi nói. “Sao vậy?”
“Mẹ em hỏi em.”
Bây giờ tôi nhìn rõ được cái ghế
của nhân viên cứu hộ, gần như
trắng.
“Vậy sao anh ở đây? Sao anh không
sống với bố mẹ?” nàng hỏi.
“Anh không còn đứa trẻ nữa,
Brenda,” tôi nói, gắt gỏng hơn tôi
dự định. “Anh đâu phải tò tò theo
bố mẹ đi bất cứ đâu.”
“Nhưng sao anh sống với chú dì
anh?”
“Họ đâu phải bố mẹ anh.”
“Họ tốt hơn à?”
“Không. Tệ hơn. Anh cũng không
biết sao anh lại sống với họ.”
“Tại sao?” nàng hỏi.
“Tại sao anh không biết à?”
“Tại sao anh sống với họ? Anh biết
mà, phải không?”
“Chắc do công việc. Sống ở đó tiện
hơn, lại đỡ tốn nữa, và nó làm bố
mẹ anh yên tâm. Thực ra bà dì của
anh cũng tốt… Anh có phải giải
thích cho mẹ em lý do anh sống ở
chỗ hiện nay không?”
“Cái này không phải cho mẹ em.
Chính em muốn biết kìa. Em tự hỏi
sao anh không sống với bố mẹ, vậy
thôi.”
“Em lạnh không?” tôi hỏi.
“Không.”
“Em muốn về chưa?”
“Chưa, trừ khi anh muốn. Anh
không thấy thoải mái sao, Neil?”
“Anh ổn chứ,” và để nàng biết tôi
vẫn bình thường, tôi kéo nàng sát
vào người, tuy lúc đó tôi chẳng có
chút thèm muốn nào.
“Neil?”
“Cái gì?”
“Công việc thư viện ra sao?”
“Ai muốn biết điều này đây?”
“Bố em,” nàng bật cười.
“Còn em?”
Nàng im lặng không trả lời một lát.
Mãi nàng mới nói, “Cả em nữa.”
“Được, muốn biết chuyện gì? Anh
có thích nó không hả? Nó tốt thôi.
Anh đã từng đứng bán giày và thấy
thích làm thư viện hơn. Sau khi
xuất ngũ bố mẹ cho anh làm thử ít
tháng ở công ty địa ốc của Chú
Aaron – bố của Doris đó – và anh
thấy thích làm thư viện hơn…”
“Sao anh xin được việc ở đó?
“Anh có làm ở đó một thời gian khi
còn ở đại học, rồi khi anh bỏ chỗ
làm với chú Aaron, ồ, anh chẳng
biết nữa…”
“Ở đại học anh học gì?”
“Ở cơ sở Newark của Đại học
Rutgers anh theo khoa triết. Lúc đó
anh hăm ba tuổi. Anh…”
“Sao anh lại ăn nói khó chịu nữa
rồi?”
“Vậy sao?”
“Ừ.”
Tôi chẳng nói xin lỗi quái gì cả.
“Anh có kế hoạch sống luôn với
nghề thư viện không?”
“Bren, anh chẳng kế hoạch gì cả.
Anh đã chẳng kế hoạch cái gì trong
ba năm rồi. Ít nhất là trong năm
anh vừa xuất ngũ. Hồi trong lính
anh thừơng có kế hoạch đi chơi
cuối tuần. Anh… anh không phải
nhà kế hoạch.” Sau tất cả những sự
thật tôi đã bất ngờ cho nàng hay,
hẳn tôi đã phá hủy sạch mọi thứ
của mình bằng lời nói dối sau
cùng đó. Tôi thêm, “Anh là kẻ
sống.”
“Còn em là kẻ chín,” nàng nói.[1]
Rồi nàng dẹp trò nói giỡn ngốc
nghếch sang một bên; nàng muốn
nghiêm túc.
“Anh có yêu em không, Neil?”
Tôi không đáp.
“Em sẽ ngủ với anh dù anh có yêu
hay không, nên cứ nói thật với em
đi.”
“Như thế hơi thô đấy.”
“Đừng thối tha thế,” nàng nói.
“Không, ý anh là nói về mình thì
thô quá.”
“Em không hiểu,” nàng nói, và
nàng không hiểu thật, và việc nàng
không hiểu khiến tôi đau; tuy
nhiên tôi vẫn tự cho mình một cái
cớ vớ vẩn để bỏ qua sự thiếu tinh
tế của nàng. “Anh có yêu không?”
“Không.”
“Em muốn anh yêu.”
“Thế còn thư viện?”
“Thư viện thì sao?”
Lại thiếu tinh tế nữa phải không?
Tôi nghĩ rằng không – và nó không
thật, vì Brenda nói, “Khi anh yêu
em thì chẳng có gì phải ưu tư cả.”
“Thế thì dĩ nhiên anh sẽ yêu em.”
Tôi mỉm cười.
“Em biết anh sẽ yêu,” nàng nói.
“Sao anh không xuống bơi, và em
sẽ nhắm mắt lại đợi anh, rồi khi trở
lại anh sẽ ướt mem làm em ngạc
nhiên. Đi đi.”
“Em thích chơi trò chơi phải
không?”
“Đi đi. Em sẽ nhắm mắt lại.”
Tôi bước tới mép hồ và phóng
xuống. Nước coi bộ lạnh hơn hồi
nãy, và khi tôi lao vào và mù lòa
chúi xuống sâu tôi chợt thấy hơi
hoảng. Trồi trở lên, tôi bắt đầu bơi
dọc hồ và đến cuối hồ thì lộn
người bơi trở lại, nhưng đột nhiên
tôi cảm thấy chắc rằng khi tôi rời
khỏi hồ thì Brenda đã đi mất. Tôi
sẽ trơ trọi một mình ở cái chỗ thổ
tả này. Tôi bơi về mép hồ rồi bò
lên và chạy tới chỗ mấy cái ghế,
Brenda vẫn còn đó và tôi hôn
nàng.
“Trời,” nàng run lên, “anh bơi có
chút xíu à.”
“Anh biết.”
“Đến lượt em,” nàng nói, và rồi
nàng đứng dậy và một giây sau tôi
tiếng nước toé lên rồi chấm hết.
Không nghe thấy gì cả hồi lâu.
“Bren,” tôi gọi khe khẽ, “em ổn
không?” nhưng chẳng ai trả lời.
Tôi thấy mắt kiếng của nàng trên
ghế cạnh tôi và cầm nó trong tay.
“Brenda?”
Im re.
“Brenda?”
“Gọi hoài thì đâu có công bằng,”
nàng nói và ngả thân hình ướt
mem vào tôi. “Tới lượt anh,” nàng
nói.
Lần này tôi lặn dưới nước một hồi
lâu và khi trồi lên buồng phổi tôi
muốn nổ tung. Tôi hất đầu ra sau
để hít hơi và thấy bầu trời trên
đầu, thấp tè như một bàn tay đang
đè xuống, và tôi bắt đầu bơi như
muốn thoát khỏi áp lực của nó. Tôi
muốn trở lại với Brenda, vì tôi lại
thấy lo âu – và chẳng có bằng
chứng nào, phải không? – cho biết
rằng nếu tôi bỏ đi quá lâu thì
nàng sẽ không còn ở đó khi tôi trở
lại. Tôi nghĩ phải chi mình cầm cái
kiếng của nàng theo, để nàng phải
chờ tôi đưa nàng về. Tôi biết mình
đang có những ý nghĩ điên khùng,
nhưng chúng vẫn có vẻ tất yếu
trong cái cõi tối đen và xa lạ ở đây.
Ôi tôi muốn từ dưới hồ này gọi tên
nàng quá, nhưng tôi biết nàng sẽ
không đáp và tôi cố ép mình bơi
suốt hồ lần thứ ba, rồi lần thứ tư,
nhưng bơi nửa chừng tua thứ năm
thì tôi lại cảm thấy nỗi lo sợ quái
gở đó, thoáng có ý nghĩ rằng chính
mình sẽ tiêu ma, nên khi trở lại tôi
đã ôm nàng cứng ngắc hơn cả mức
hai đứa trông đợi.
“Buông ra nào,” nàng bật cười, “tới
lượt em…”
“Nhưng Brenda…”
Nhưng nàng đã biến đi và lần này
cứ như nàng không bao giờ trở lại.
Tôi ngồi đó và đợi cho mặt trời tỏa
sáng trên lỗ golf thứ chín, cầu
mong nó sớm mọc cứ như chỉ vì
thèm ánh sáng của nó, và sau cùng
khi Brenda trở lại tôi sẽ không cho
nàng bỏ đi nữa, và cái ướt lạnh
của nàng đã ít nhiều bò qua tôi và
khiến tôi rùng mình. “Vậy thôi.
Brenda. Đừng chơi nữa mà,” tôi
nói, và rồi khi lập lại tôi đã ôm
nàng thật chặt đến mức như chìm
hẳn vào người nàng, “Anh yêu em,”
tôi nói, “Thật đó.”
* * *
Thế là mùa hè tiếp tục. Tôi gặp
Brenda mỗi đêm: chúng tôi đi bơi,
đi dạo, lái xe đi chơi, lên núi xa và
lâu đến độ khi quay về sương mù
đã tụ trên cây và tràn vào lòng
đường, và tôi phải nắm chặt tay lái
còn Brenda phải đeo kiếng vào để
canh đường sơn trắng giữa lộ cho
tôi. Và chúng tôi ăn – một vài tối
sau khi tôi khám phá ra cái tủ lạnh
thì chính Brenda dẫn tôi vào đó.
Chúng tôi lấy từng tô đầy nhóc anh
đào, và trên những đĩa để dọn món
bò nướng chúng tôi chất ú hụ
những lát dưa hấu. Rồi chúng tôi
đứng dậy theo cửa sau của tầng
hầm để ra bãi cỏ sau nhà rồi ngồi
dưới gốc cây dụng cụ thể thao, ở
đó nguồn ánh sáng duy nhất cho
chúng tôi là từ phòng tivi. Có
những lúc lâu âm thanh duy nhất
chúng tôi nghe được là tiếng hai
đứa phun hột trái cây. “Ước gì qua
đêm là chúng mọc thành cây để
đến sáng là có cả đống dưa hấu với
anh đào.”
“Nếu chúng mọc được ở sân này,
cưng, thì người ta đã trồng tủ lạnh
với tủ đá Westinghouse Preferred
rồi. Anh không định khó ưa đâu,”
tôi vội vàng nói thêm, và Brenda sẽ
cười, rồi nói nàng thích mận lục,
tôi sẽ biến xuống tầng hầm và tô
anh đào biến thành tô mận lục, rồi
tới một tô xuân đào, rồi tới một tô
đào, cho đến khi, cái này nói thật,
tôi no muốn bể bụng, và chắc
nguyên một tối hôm sau phải rầu
rĩ nhịn không uống gì cả. Chúng
tôi cũng ra ngoài để ăn sandwich
bò muối, pizza, bia với tôm, soda
kem và hamburger. Một tối nọ
chúng tôi đi hội chợ của Câu lạc
bộ Lions và Brenda thắng được một
cái gạt tàn nhờ ném bóng vào rổ
ba cú liên tiếp. Và khi Ron từ
Milwaukee trở về thỉnh thoảng
chúng tôi lại đi xem anh ta chơi
bóng rổ trong giải mùa hè cho dân
bán chuyên nghiệp, và chính trong
những tối đó tôi thấy mình là kẻ xa
lạ với Brenda, vì nàng biết tên mọi
đấu thủ, và tuy phần lớn bọn họ
thì xoàng và chân tay lóng ngóng,
nhưng có một tay tên Luther
Ferrari thì không, đó là anh chàng
Brenda đã hẹn hò trong suốt một
năm hồi trung học. Hắn là bạn
thân nhất của Ron và tôi nhớ được
tên hắn từng xuất hiện trên tờ
Newark News: hắn là một trong
những anh em nhà Ferrari lừng
danh, tất cả bọn họ đều chơi ít
nhất hai môn thể thao. Chính
Ferrari là người gọi Brenda là Buck,
một biệt danh chắc là có từ thời
nàng giành được mấy sợi băng vải.
Giống Ron, Ferrari lễ phép thái
quá, làm như đó là chứng bệnh
của những đứa cao hơn một mét
chín; hắn cực kỳ lịch sự với tôi và
lịch lãm với Brenda, và sau một
thời gian là tôi bàn ra ngay mỗi khi
có đề nghị đi xem Ron chơi bóng.
Và rồi một đêm chúng tôi khám
phá ra rằng cứ mười một giờ là
người bán vé rạp hát Hilltop ra về
còn ông chủ rạp thì biến vào văn
phòng, nên mùa hè đó chúng tôi
xem được đoạn cuối của ít nhất là
mười lăm bộ phim, và khi lái xe về
nhà – tức là, về nhà Brenda –
chúng tôi sẽ cố dựng lại đoạn đầu
bộ phim. Đoạn sau tụi tôi thích
nhất là của phim Ma and Pa Kettle
in the City, trái cây tụi tôi thích
nhất, mận lục, và người tụi tôi
thích nhất, duy nhất thích, là đứa
này đối với đứa kia. Dĩ nhiên thỉnh
thoảng tụi tôi cũng gặp người này
người nọ, một số bạn là của
Brenda, và thảng hoặc, một hai
người bạn của tôi. Một đêm tháng
Tám kia chúng tôi còn vào một
quán rượu nằm tuốt ở đường số 6
cùng với Laura Simpson Stolowitch
và anh chồng chưa cưới của cô ta
nữa, nhưng đó là một buổi tối mắc
mửa. Brenda với tôi hình như
không có nghề nói chuyện với
người khác, cho nên chúng tôi cứ
khiêu vũ suốt, nhờ đó mà nhận ra
chúng tôi chưa từng làm chuyện
này với nhau. Anh bồ ruột của
Laura uống cocktail một cách nặng
phần trình diễn còn Simp – Brenda
muốn tôi gọi cô ta là Stolo nhưng
tôi không chịu – Simp uống một
thứ pha trộn làng nhàng những
thứ như bia gừng với soda. Mỗi khi
bọn tôi trở lại bàn là lại nghe Simp
nói về “buổi khiêu vũ” còn bạn trai
cô nói về “bộ phim” cho đến khi
sau cùng Brenda phải hỏi “Phim
nào?” và rồi chúng tôi khiêu vũ cho
đến giờ đóng cửa. Và khi về tới nhà
Brenda tụi tôi lấy đầy một tô anh
đào mang vào phòng tivi và ăn lép
nhép một hồi; và sau đó, trên
trường kỷ, hai đứa yêu nhau và khi
tôi đi từ căn phòng tối đèn vào
phòng tắm tôi luôn cảm hấy chân
mình dẫm phải hột anh đào. Về
đến nhà, cởi quần áo lần thứ nhì
đêm đó, tôi còn thấy những vết
ửng đỏ dưới gan bàn chân mình.
Còn bố mẹ nàng nghĩ sao về
chuyện này? Bà Patimkin tiếp tục
mỉm cười với tôi còn ông Patimkin
cứ nghĩ tôi ăn như chim. Khi được
mời tới ăn tối, tôi thường, vì muốn
tốt cho ông, cố ăn gấp đôi những
món tôi thích, nhưng sự thực có vẻ
là sau khi ông xếp loại khả năng
ăn uống của tôi lần đầu thì ông
chẳng bao giờ thèm xem xét lại.
Tôi có thể ăn gấp mười lần lượng
bình thường của mình, hay sau
cùng tử vong vì thức ăn, thì ông
vẫn xem tôi chẳng phải đàn ông
mà chỉ là một con én. Không ai có
vẻ rầu vì sự có mặt của tôi, tuy
Julie có lạnh nhạt đáng kể; sau
cùng, khi Brenda đề nghị với bố
nàng rằng cuối tháng Tám tôi sẽ
tới chơi một tuần ở nhà nàng, ông
ta ngẫm nghĩ một lát, chọn cây gậy
golf số năm, quất phát khởi đầu,
rồi nói “Được.” Và khi nàng thông
báo lại với mẹ nàng về quyết định
của ông Bồn Tắm Patimkin, thì bà
Patimkin chẳng còn làm gì được.
Nên, nhờ sự dàn xếp của Brenda,
tôi đã được mời.
Vào sáng thứ Sáu đó, vốn là ngày
làm việc cuối trong tuần, dì Gladys
thấy tôi chuẩn bị hành lý và bà hỏi
tôi tính đi đâu. Tôi nói bà nghe.
Bà không nói gì và tôi thấy có gì kỳ
kỳ trong đôi mắt hoảng loạn viền
đỏ đó – tôi đã thay đổi nhiều kể từ
ngày bà nói “Ly kỳ.” với tôi qua
điện thoại.
“Mày đi bao lâu, tao phải biết để
tính chuyện đi chợ tao sẽ không
mua quá nhiều. Mày cứ để lại cho
tao đầy một tủ lạnh sữa nó sẽ
chua lên rồi ám mùi cả cái tủ…”
“Một tuần,” tôi nói.
“Một tuần à?” bà hỏi. “Người ta có
phòng cho cả tuần sao?”
“Dì Gladys, họ đâu có sống bên
trên một cửa hàng.”
“Tao sống bên trên cửa hàng tao
không mắc cở. Tạ ơn Chúa là mình
luôn có một mái nhà. Nhà tao chưa
bao giờ phải đi xin ngoài đường,”
bà nói trong khi tôi nhét vào bị cái
quần Bermuda mới mua, “Susan
em mày tụi tao cũng cho đi học
đại học được, Chú Max phải sống
và khoẻ mạnh. Tụi tao đâu có tống
nó đi trại hè trong tháng Tám, nó
không có được giày dép ngay khi nó
muốn, không có một ngăn tủ đầy
áo cổ lọ…”
“Con có nói gì đâu, dì Gladys.”
“Ở đây mày không có đủ cái ăn hả?
Có khi mày bỏ mứa tao có chỉ cho
chú Max mày xem thiệt là xấu hổ.
Một đứa nhỏ châu Âu có thể lấy
mớ mày bỏ mứa làm thành một bữa
ăn bốn món đó.”
“Dì Gladys.” Tôi bước đến chỗ bà.
“Ở đây con có mọi thứ cần thiết.
Con chỉ đi nghỉ một chuyến thôi.
Con không đáng hưởng một kỳ nghỉ
sao?”
Bà ôm lấy tôi và tôi thấy người bà
run run. “Tao đã nói với mẹ mày
tao sẽ chăm sóc Neil của bà ấy bà
ấy đừng lo. Mà bây giờ mày bỏ
đi…”
Tôi vòng tay ôm và hôn lên đỉnh
đầu bà. “Kìa, Dì.” Tôi nói, “Dì đừng
có kỳ như thế. Con đâu có bỏ đi.
Con chỉ đi chơi một tuần, đi nghỉ
thôi mà.”
“Mày để lại số điện thoại cầu Chúa
đừng để mày bệnh hoạn.”
“Được rồi.”
“Họ sống ở Millburn hả?”
“Short Hills. Con sẽ để lại số điện
thoại.”
“Dân Do Thái đến sống ở Short
Hills từ hồi nào vậy? Họ không phải
Do Thái thứ thiệt tin tao đi.”
“Họ Do Thái thiệt mà.” Tôi nói.
“Chừng nào tao thấy mới tin.” Bà
đưa mép tấm tạp dề lên lau mắt,
ngay khi tôi kéo dây hai bên valy.
“Đừng đóng vội. Tao gói cho mày
một ít trái cây mang theo.”
“Được rồi, dì Gladys,” và trên
đường đi làm sáng hôm đó tôi ăn
trái cam và hai trái đào bà đã bỏ
vào bị cho tôi.
* * *
Vài giờ sau ông Scapello thông báo
với tôi rằng khi tôi đi nghỉ đợt lễ
Lao động[2] về tôi sẽ được tống lên
cái đôn của bà Martha Winney.
Chính ông ta, ông ta nói, đã có một
bước thăng cấp như vậy mười hai
năm trước, nên có vẻ như nếu tôi
có thể xoay xở giữ được thăng bằng
thì một ngày nào đó tôi sẽ là ông
Scapello. Tôi cũng sẽ được tăng
lương tám đô, thế là tới năm đô
cao hơn mức tăng mà ông Scapello
nhận được nhiều năm trước. Ông
ta bắt tay tôi và rồi đi trở lên
đường cầu thang đá hoa dài thậm
thượt, mông đít ông ta chập chờn
sau vạt áo vest cứ như cái vòng rổ
của môn bóng rổ. Ông ta vừa đi
khỏi thì tôi ngửi thấy mùi bạc hà
và ngẩng lên thấy ông già có mũi
và quai hàm nổi gân đỏ.
“Chào chàng trai,” ông ta nói vui
vẻ. “Cuốn sách đó trở lại chưa?”
“Sách nào?”
“Cuốn Gauguin đó. Tôi đi mua đồ
và ghé vào đây hỏi thăm. Tôi vẫn
chưa nhận được thẻ. Mà đã hai
tuần rồi.”
“Chưa,” tôi nói, và khi đó tôi thấy
ông Scapello dừng lại trên cầu
thang và quay lại cứ như đã quên
chưa dặn tôi điều gì đó. “Ông hiểu
cho,” tôi nói với ông già, “nó sẽ trở
lại đây một ngày nào đó bất kỳ.”
Tôi nói với giọng chung kết đến
mức gần như gắt gỏng, và tôi cảnh
giác liền, vì đột nhiên tôi thấy sẽ
xảy ra chuyện gì: ông già sẽ làm
um sùm lên, ông Scapello từ trên
cầu thang phóng xuống, ông
Scappelo lục lọi các dãy kệ,
Scapello phát cáu lên, Scapello
tuôn trào các thứ, Scapello chủ tọa
buổi đăng quang của John McKee
lên chiếc đôn của bà Winney. Tôi
quay sang ông già, “Sao ông không
để lại số điện thoại và tôi sẽ cố đặt
trước cuốn đó cho ông ngay chiều
nay…” nhưng nỗ lực quan tâm và
ân cần của tôi đã là quá trễ, và
ông già gầm gừ những câu về bọn
công chức, gửi thư cho Thị trưởng,
bọn trẻ phách lối, và tạ ơn Chúa,
ông ta rời thư viện đúng một giây
trước khi ông Scapello trở lại chỗ
tôi để nhắc tôi rằng mọi người
đang góp tiền để mua quà cho bà
Winney và nếu tôi muốn góp thì để
lại nửa đô trên bàn ông ta trong
hôm nay.
Sau bữa trưa cậu bé da đen lại tới.
Khi cậu đi qua chỗ bàn tôi để tới
cầu thang, tôi gọi nó. “Lại đây nè,”
tôi nói. “Đi đâu vậy?”
“Khu tim.”
“Cậu đang đọc cuốn nào?”
“Thì cuốn Go-again đó. Mà tôi đâu
làm gì bậy. Tôi đâu có viết gì vào
sách. Ông xét tôi đi…”
“Tôi biết cậu không làm gì bậy.
Nghe nè, nếu cậu thích cuốn đó
như thế sao không mượn về nhà?
Cậu có thẻ thư viện không?”
“Không, tôi đâu có mượn gì.”
“Không, thẻ thư viện là do chúng
tôi cấp để cậu mượn sách về nhà.
Như thế cậu khỏi phải tới đây mỗi
ngày. Cậu có đi học không?”
“Có chứ. Trường Miller Street.
Nhưng đang nghỉ hè mà. Tôi không
tới trường đâu có sao. Đâu ai bắt
tôi phải tới trường lúc này.”
“Tôi biết. Miễn còn đi học là có thể
làm thẻ thư viện. Cậu có thể mượn
sách về nhà.”
“Sao ông cứ xúi tôi mang sách về
nhà hoài vậy? Ở nhà thế nào cũng
có đứa làm hư sách.”
“Thì cậu giấu ở đâu đó, trong hộc
bàn…”
“Trời trời,” nó nói, liếc mắt nhìn
tôi, “sao ông không muốn tôi tới
đây?”
“Tôi đâu có nói là cậu đừng tới
đây.”
“Tôi thích tới đây. Tôi thích mấy
cái cầu thang.”
“Tôi cũng thích vậy,” tôi nói.
“Nhưng rắc rối là sẽ có người mượn
cuốn đó về nhà.”
Cậu ta mỉm cười. “Đừng lo,” nó nói
với tôi. “Tới giờ vẫn đâu có ai
mượn,” rồi nó đi lộp cộp lên cầu
thang tới Dãy Ba.
Vậy mà bữa đó tôi đổ mồ hôi! Đó là
ngày mát nhất trong mùa hè,
nhưng khi rời chỗ làm vào buổi tối
lưng áo tôi đã dính sát vào da.
Trong xe tôi mở túi đồ, và trong khi
dòng xe cộ giờ cao điểm ồ ạt trên
dường Washington, tôi chúi vào
băng sau thay một cái áo sạch để
khi đến Short Hills tôi trông cũng
có vẻ đáng được hưởng một đợt xả
hơi ở ngoại ô. Nhưng chạy xe theo
đại lộ Central tôi không thể nghĩ gì
về kỳ nghỉ của mình, và do đó
không tập trung được vào việc lái
xe: trước sự bực bội của người đi
bộ cũng như người lái xe khác, tôi
quậy cần số, lấn vào đường của
người đi bộ, chần chừ ở đèn xanh
cũng như đèn đỏ. Tôi cứ nghĩ rằng
trong khi tôi đi nghỉ tay già quai
hàm bự sẽ trở lại thư viện, rồi
cuốn sách của cậu bé da đen sẽ bị
mượn mất, rằng tôi sẽ mất chỗ làm
mới của mình, thực ra là chỗ làm
cũ – nhưng sao tôi lại phải ưu tư
về tất cả những chuyện đó: thư
viện đâu phải sự nghiệp một đời
của tôi.
_________________________
[1]Tác giả chơi chữ. Neil nói, “I’m a
liver” với liver nghĩa là người [chỉ
biết] sống, sau khi anh ta nói “I’m
not a planner”. Nhưng liver còn có
nghĩa là lá gan. Và Brenda nói, “I’m
a pancreas,” (Em là tụy tạng) để
đùa chữ liver. Vụ này chuyển ngữ
không nổi, nên đành dịch tạm như
trên.
[2]Lễ Lao động ở Mỹ được tổ chức
vào ngày thứ Hai đầu tiên của
tháng Chín, chứ không phải vào
ngày 1 tháng 5 như ở Việt Nam.