
Chia tay thôi - Columbus - Philip
Roth - Chương 5
Kỳ: ... [5] 6 7 8 ...
“Ron sắp lấy vợ!” Julie gào lên với
tôi khi tôi bước qua cửa. “Ron
sắp lấy vợ!”
“Bây giờ hả?” tôi hỏi.
“Lễ Lao động! Anh ấy cưới Harriet,
anh ấy sắp cưới Harriet.” Nó bắt
đầu ê a câu đó như một bài ca lúc
nhảy dây, với giọng mũi và nhiều
tiết điệu. “Mình sẽ là em chồng!”
“Chào,” Brenda nói, “Mình sẽ là em
chồng.”
“Anh cũng nghe thế. Chừng nào
vậy?”
“Anh ấy mới nói chiều nay. Họ nói
chuyện đường dài với nhau cả bốn
mươi phút tối qua. Tuần tới chị ấy
sẽ bay qua đây, và sẽ có một đám
cưới to đùng. Bố mẹ em đang chạy
cuống cuồng. Họ phải thu xếp mọi
chuyện trong vòng một hai ngày.
Mà bố em muốn cho Ron đi làm với
ông – nhưng anh ấy phải bắt đầu
với hai trăm một tuần rồi leo lên
từ từ. Mà chuyện đó tháng Mười
mới bắt đầu.”
“Anh nghĩ anh ta sẽ làm giáo viên
thể dục.”
“Trước đây thì vậy. Nhưng bây giờ
anh ấy có nhiều trách nhiệm…”
Và trong bữa tối Ron cứ lan man
với chủ đề trách nhiệm và tương
lai.
“Tụi con sẽ có con trai,” cậu ta nói,
khiến bà mẹ hài lòng, “rồi khi nó
chừng sáu tháng, con sẽ cho nó
ngồi trước một trái bóng rổ, một
trái banh bầu dục với một trái
bóng chày, nó chụp cái nào thì tụi
con sẽ tập trung vào môn đó.”
“Nếu như nó không chọn cái nào
cả,” Brenda nói.
“Đừng nói ngốc, qúi nương,” bà
Patimkin nói.
“Con sẽ là bà cô,” Julie ê a, rồi nó
lè lưỡi ra với Brenda.
“Chừng nào Harriet tới?” ông
Patimkin nhồm nhoàm với một
miệng đầy khoai tây.
“Một tuần nữa tính từ hôm qua.”
“Chị ấy ngủ ở phòng con được
không?” Julie kêu. “Được không?”
“Không, ở phòng cho khách chứ…”
bà Patimkin cất tiếng, nhưng rồi
chợt nhớ ra tôi – với một cái liếc
nhìn gây khó chịu từ đôi mắt tím
ấy, và nói tiếp, “Dĩ nhiên.”
Được, tôi quả là ăn như chim. Sau
bữa tối, túi của tôi được mang lên
– do chính tôi – phòng dành cho
khách đối diện với phòng Ron và
cách phòng Brenda cả một hành
lang. Brenda đi theo để chỉ đường
cho tôi.
“Cho anh coi giường ngủ của em,
Bren.”
“Để sau đi,” nàng nói.
“Vậy được không? Ngay trên đây
à?”
“Chắc được,” nàng nói. “Ron ngủ
say như khúc gỗ.”
“Anh ở lại suốt đêm được không?”
“Em đâu biết.”
“Anh sẽ dậy sớm trở lại phòng anh.
Mình sẽ để đồng hồ báo thức.”
“Vậy là làm cả nhà thức dậy. Không
được đâu.”
“Anh sẽ nhớ thức dậy. Anh làm
được mà.”
“Em không nên ở trên đây quá lâu
với anh,” nàng nói. “Mẹ dễ nổi cơn
lắm. Em chắc mẹ bồn chồn chuyện
anh ở đây.”
“Anh cũng vậy. Anh chưa biết gì
nhiều về nhà em. Em nghĩ anh nên
ở đây cả tuần à?”
“Cả tuần? Khi Harriet tới đây thì
mọi thứ sẽ lung tung beng lên và
anh có thể ở luôn hai tháng.”
“Vậy sao?”
“Ừ.”
“Em muốn anh ở lại không?”
“Muốn,” nàng nói, và xuống nhà để
mẹ nàng an tâm.
Tôi lấy đồ ra và bỏ quần áo vào
một ngăn tủ trống rỗng ngoại trừ
một gói những tấm vải lót nách và
một cuốn kỷ yếu trung học. Đang
lúc tôi soạn đồ ra, Ron lộp cộp lên
cầu thang.
“Chào,” anh ta gọi vọng vào phòng
tôi.
“Xin chúc mừng,” tôi đáp lại. Lẽ ra
tôi phải hiểu bất cứ câu lễ nghi
nào cũng dẫn tới màn bắt tay với
Ron; anh ta ngưng ngay bất cứ gì
đang định làm trong phòng mình
để bước vào phòng tôi.
“Cám ơn.” Anh ta bơm tôi. “Cám
ơn.”
Rồi anh ta ngồi xuống giường và
quan sát trong khi tôi kết thúc tiết
mục soạn đồ. Tôi có một cái sơ mi
mang nhãn Brooks Brothers và tôi
lần khân để nó trên giường lâu
một tí; mấy cái áo Arrows thì tôi
xếp đống trong ngăn kéo. Ron ngồi
đó chà sát cánh tay và nhe răng
cười. Một lát sau sự im lặng làm
tôi bối rối thiệt tình.
“Rồi,” tôi nói, “vậy đó.”
Anh ta đồng ý, nhưng đồng ý với
cái gì thì tôi không biết.
“Thấy nó ra sao?” tôi hỏi, sau một
lúc lâu im lặng.
“Khá hơn. Ferrari quất trúng banh
ngay dưới bảng chắn.”
“Ô, trời,” tôi nói. “Thấy chuyện lấy
vợ ra sao kìa?”
“À, ổn thôi, chắc vậy.”
Tôi dựa vào bàn và đếm những mũi
đan móc trên tấm thảm.
Sau cùng Ron cũng liều một cuộc
phiêu lưu đối thoại. “Anh có biết
gì về âm nhạc không?” anh ta hỏi.
“Có, một chút gì đó.”
“Nếu muốn thì anh nghe bằng máy
của tôi cũng được.”
“Cám ơn, Ron. Tôi không ngờ là anh
thích nhạc.”
“Thật mà. Tôi có mọi đĩa từng phát
hành của Andre Kostelanetz. Anh
thích Mantovani không? Tôi cũng
có toàn bộ tác phẩm luôn. Tôi
thích dòng bán cổ điển. Anh có thể
nghe đĩa Columbus của tôi nếu
thích…” anh ta nhạt chuyện dần.
Sau cùng anh ta bắt tay tôi và đi
ra.
Dưới nhà tôi nghe Julie hát. “Em
sẽ là bà c-c-cô,” còn bà Patimkin
nói, “Đừng, út cưng, con sẽ là em
chồng. Hát vậy đó, đi,” nhưng Julie
tiếp tục hát, “Em sẽ là bà c-c-cô,”
rồi tôi nghe giọng Brenda hòa theo
nó, hát rằng “Mình sẽ là bà c-c-cô,”
và Julie hát theo, và sau cùng bà
Patimkin phải gọi ông Patimkin,
“Ông bảo nó đừng có xúi con bé…”
và màn song ca bế mạc.
Rồi tôi lại nghe tiếng bà Patimkin.
Tôi không nghe rõ từng lời nhưng
có Brenda trả lời bà. Giọng họ dần
to lên, sau cùng tôi nghe rõ mồn
một. “Tao cần một nhà đầy bạn bè
vào lúc như thế này chắc?” Đó là
bà Patimkin. “Con hỏi mẹ rồi mà,
mẹ.” “Mày hỏi bố mày thì có. Lẽ ra
mày phải hỏi tao trước. Ông ấy đâu
có biết tao phải làm thêm bao
nhiêu việc…” “Chúa ơi, mẹ, mẹ nghĩ
mình không có Carlota với Jenny
chắc.” “Carlota với Jenny đâu thể
làm hết mọi việc. Đây không phải
Đội Cứu tế!” “Ý mẹ muốn nói quái
gì thế?” “Coi chừng mồm miệng đó,
qúi nương. Vậy chắc là hay với bạn
bè trong trường lắm.” “Ôi, thôi đi,
mẹ!” “Đừng có lên giọng với tao.
Có bao giờ mày động đậy một ngón
tay để tiếp việc nhà không?” “Con
đâu phải đầy tớ… Con là con gái
bố mẹ mà.” “Mày phải biết một
ngày công nghĩa là gì.” “Tại sao?”
Brenda nói. “Tại sao?” “Bởi vì mày
làm biếng,” bà Patimkin đáp, “và
mày nghĩ mọi người phải nuôi mày
sống.” “Ai nói thế?” “Mày phải kiếm
ít tiền mà tự sắm lấy quần áo.”
“Tại sao? Chúa ơi, mẹ, chỉ cần mớ
cổ phiếu là bố sống ngon lành rồi.
Mẹ còn ca cẩm gì nữa?” “Lần cuối
cùng mày rửa chén là khi nào!”
“Chúa ơi!” Brenda gân cổ lên,
“Carlota rửa chén chứ!” “Đừng có
Chúa ơi với tao!” “Ôi, mẹ!” và
Brenda bật khóc. “Sao mẹ lại hóa
ra thế này chứ!” “Vậy đó,” bà
Patimkin nói “cứ khóc trước mặt
bạn mày đi…” “Bạn con…” Brenda
nức nở, “Sao mẹ không tới quát vào
mặt anh ấy luôn đi… tại sao ai
cũng khó chịu với con như vậy…”
Từ bên kia hành lang, tôi có thể
nghe Andre Kostelanetz cho vài
ngàn cây vĩ cầm tuôn ra bài “Night
and Day.” Cửa phòng Ron mở ngỏ
và tôi thấy anh ta nằm dài ra, bề
thế, trên giường mình; anh ta đang
hát theo đĩa. Lời là của bài “Night
and Day,” nhưng tôi không nhận ra
giọng của Ron. Ngay sau đó anh ta
nhấc điện thoại lên và xin một số ở
Milwaukee. Trong khi tổng đài nối
máy, anh ta lăn người qua và tăng
âm lượng đĩa hát, nên nó có thể
vọng xa tới chín trăm dặm về phía
tây.
Tôi nghe tiếng Julie dưới nhà. “Hơ
hơ, Brenda khóc, hơ hơ, Brenda
khóc.”
Và rồi Brenda chạy lên cầu thang.
“Rồi sẽ tới lượt mày đó, đồ tiểu
qủi!” nàng kêu lên.
“Brenda!” bà Patimkin gọi.
“Mẹ-ẹ!” Julie gào. “Chị Brenda chửi
con kìa.”
“Bà kêu tôi hả, bà P.?” Carlota kêu.
Còn Ron, bên phòng kia, nói, “Chào
Har, anh đã nói với cả nhà…”
Tôi ngồi lên cái áo Brooks Brothers
và gọi tên tôi thành lời.
* * *
“Mẹ quái đản quá!” Brenda nói với
tôi khi nàng đi tới đi lui trong
phòng tôi.
“Bren, em có nghĩ rằng anh nên
đi…”
“Shhh…” nàng bước tới cửa và lắng
nghe. “Họ đi thăm người ta rồi,
cám ơn Chúa.”
“Brenda…”
“Shhh… Họ đi rồi.”
“Cả Julie hả?”
“Ừ,” nàng nói. “Ron trong phòng
anh ấy hả? Cửa phòng anh ấy
đóng.”
“Anh ta ra ngoài rồi.”
“Ở đây anh đâu nghe được ai đi ra
đi vô. Ai cũng dùng giày đế mềm
hết. Ôi, Neil.”
“Bren, anh hỏi này, có lẽ anh chỉ
nên ở tới mai rồi về.”
“Ồ, mẹ đâu có bực anh.”
“Anh đâu biết làm sao.”
“Đó là tại Ron, thật đó. Chuyện anh
ấy lấy vợ làm mẹ quay lơ. Em cũng
vậy. Bây giờ có bà chị Harriet dễ
thương ở đây thì mẹ sẽ quên ngay
là có em trên đời.”
“Vậy không ổn cho em sao?”
Nàng bước tới cửa sổ và nhìn ra
ngoài. Trời tối và mát; đám cây lao
xao và giao động cứ như những
tấm vải được treo phơi cho khô.
Mọi thứ bên ngoài gợi nhớ tới
tháng Chín và lần đầu tiên tôi
nhận ra chúng tôi đã gần kề thế
nào với ngày Brenda rời nhà để đi
học.
“Phải không, Bren?” nhưng nàng
không nghe tôi.
Nàng bước tới một cánh cửa cuối
phòng. Nàng mở nó ra.
“Anh cứ nghĩ đó là phòng xép,” tôi
nói.
“Lại đây.”
Nàng giữ cửa mở và chúng tôi nhìn
vào bóng tối và nghe được tiếng
gió lạ lùng rít dưới mái hiên.
“Cái gì trong đó vậy?” tôi hỏi.
“Tiền.”
Brenda bước vào. Khi cái bóng đèn
60 watt tờ mờ được bật sáng, tôi
thấy chỗ này đầy những đồ đạc cũ
– hai cái ghế bành lưng cao có
đường viền, một trường kỷ ở giữa
nệm gồ u lên, một cái bàn chơi bài
kèm hai chiếc ghế lòi cả lớp độn
bên trong ra, một cái gương tróc
lớp tráng thủy, những cái đèn
không có chụp đèn, những chụp
đèn không có đèn, một bàn cà phê
với mặt kiếng rạn nứt, và một đống
những tấm rèm cuộn lại.
“Cái gì vậy?” tôi hỏi.
“Phòng kho. Đồ đạc cũ trong nhà.”
“Cũ chừng bao lâu?”
“Từ hồi ở Newark,” nàng nói. “Lại
đây.” Nàng bò trên đầu gối trước
trường kỷ và lật lớp nệm lên để
nhìn xuống bên dưới.
“Brenda, mình làm quái gì trong
đây đây? Bẩn người em hết.”
“Không có ở đây.”
“Cái gì?”
“Tiền. Em nói anh rồi.”
Tôi ngồi xuống cái ghế lưng cao,
làm bốc lên chút bụi. Ngoài kia
trời bắt đầu mưa, và chúng tôi có
thể ngửi thấy cái ẩm ướt của mùa
thu lan vào qua lỗ thông hơi ở cuối
phòng kho. Brenda đứng dậy rồi
ngồi xuống trường kỷ. Đầu gối và
nguyên cái quần Bermuda dính
bẩn và khi nàng vuốt tóc ra sau
nàng làm bẩn luôn cái trán. Ở đó
giữa sự bừa bộn và bụi bặm tôi
chợt có cảm giác kỳ lạ của việc nhìn
thấy chúng tôi, cả hai đứa, bị đặt
giữa chốn bừa bộn và bụi bặm này:
chúng tôi trông giống một cặp vợ
chồng trẻ vừa mới dọn vào một căn
hộ mới; chúng tôi đã đột nhiên
kiểm kê lại các đồ đạc, các khoản
tiền bạc, và tương lai, và điều duy
nhất chúng tôi có thể cảm thấy dễ
chịu là cái mùi sạch sẽ ngoài kia,
nó nhắc chúng tôi nhớ rằng chúng
tôi đang sống, nhưng khi cần, nó
không nuôi được chúng tôi.
“Tiền gì?” tôi hỏi.
“Mấy tờ trăm đô. Từ hồi em còn
nhỏ…” nàng hít thở thật sâu. “Hồi
em còn nhỏ và nhà em mới dọn
khỏi Newark, một bữa ba em dẫn
em lên đây. Ông đưa em vào
phòng này rồi nói nếu có gì xảy ra
cho ông, thì ông muốn em biết chỗ
nào có một ít tiền bạc để em dùng.
Ông bảo số tiền đó chẳng dành cho
ai khác ngoài em, và bảo em không
được nói cho ai biết, kể cả Ron.
Hay mẹ em cũng vậy.”
“Có chừng bao nhiêu?”
“Ba tờ một trăm đô. Trước đó em
chưa từng thấy. Lúc đó em mới
chín tuổi, cỡ Julie bây giờ. Em
tưởng nhà em chỉ sống ở đây
chừng một tháng. Em nhớ mình
thường lên đây khoảng mỗi tuần
một lần, khi không có ai ở nhà
ngoài Carlota, rồi chui xuống gầm
trường kỷ để kiểm tra chắc là nó
còn đó. Và lúc nào nó cũng còn đó.
Bố không hề nhắc tới nó lần nào
nữa. Không hề.”
“Nó ở đâu? Có thể ai đã ăn cắp
rồi.”
“Em không biết, Neil à. Em nghĩ
chắc bố đã lấy lại.”
“Khi nó mất,” tôi nói, “Chúa ơi, em
không cho bố biết sao? Có thể
Carlota…”
“Em không hề biết nó mất, cho đến
lúc này. Em nghĩ em đã thôi không
kiểm tra nó một đôi lần… Rồi em
quên nó luôn. Hay chỉ đơn giản
không nghĩ về nó nữa. Ý em là em
lúc nào cũng đủ tiền xài, em không
cần đến khoản này. Chắc bố một
lúc nào đó đã cho rằng em không
cần đến nó nữa.”
Brenda bước tới khung cửa sổ hẹp
đầy bụi và vẽ tên tắt của nàng lên
đó.
“Thế sao bây giờ em cần nó?” tôi
hỏi.
“Em không biết…” nàng nói rồi
bước tới tắt đèn.
Tôi không rời khỏi ghế và Brenda,
trong chiếc áo thun và quần soóc
bó sát, cứ như đang trần truồng
đứng cách tôi vài bước. Rồi tôi
thấy đôi vai nàng run run. “Em
muốn tìm được mớ tiền đó rồi xé
nát ra bỏ cái mớ chết tiệt đó vào ví
của mẹ! Nếu nó còn đó, em thề là
em sẽ làm thế.”
“Anh không để em làm đâu, Bren.”
“Anh không chịu sao?”
“Không.”
“Yêu em đi, Neil. Ngay bây giờ.”
“Ở đâu?”
“Làm đi! Ngay đây. Trên cái trường
kỷ thối tha thối tha thối tha này.”
Và tôi nghe lời nàng.
* * *
Sáng hôm sau Brenda làm bữa
sáng cho hai đứa tụi tôi. Ron đã đi
làm ngày đầu tiên – tôi có nghe
anh ta hát ê a trong phòng tắm độ
một giờ sau khi tôi trở lại phòng
mình; thực sự, tôi đã thức khi
chiếc Chrysler ra khỏi nhà xe, mang
theo ông chủ và anh con trai xuống
cơ xưởng Patimkin ở Newark. Bà
Patimkin cũng không có nhà, bà đã
lấy xe và đi tới đền thờ để nói
chuyện với giáo sĩ Kranitz về vụ
đám cưới. Julie đang ở sân sau
chơi trò giúp Carlota phơi quần áo.
“Anh biết sáng nay em muốn làm
gì không?” Brenda nói. Chúng tôi
đang ăn bưởi chùm, chia nhau một
cách hơi bầy hầy, vì Brenda không
tìm ra con dao xẻ, nên chúng tôi
quyết định cứ lột nó ra như cam
rồi ăn từng múi một.
“Cái gì?” tôi hỏi.
“Chạy,” nàng nói. “Anh có bao giờ
chạy không?”
“Em muốn nói trên đường đua hả?
Ồ, có chứ. Hồi học trung học mỗi
tháng tụi anh phải chạy một dặm.
Nên tụi anh hết còn bám váy mẹ.
Anh nghĩ buồng phổi mình càng
lớn thì chắc mình càng ghét mẹ
mình.”
“Em muốn chạy,” nàng nói, “và
muốn anh chạy nữa. Được không?”
“Ồ, Brenda…”
Nhưng một giờ sau, sau bữa điểm
tâm gồm một trái bưởi nữa, coi bộ
đó là tất cả những gì mà một tay
chạy bộ nên ăn trong buổi sáng,
chúng tôi lái chiếc Volkswagen lại
trường trung học, phía sau đó có
đường chạy một phần tư dặm. Mấy
đứa trẻ đang chơi với một con chó
ở bãi cỏ bên trong đường chạy, và
ở tuốt đàng kia, gần bìa rừng, một
bóng người mặc quần soóc trắng có
đường xẻ bên đùi, không mặc áo,
đang quay, quay, rồi đẩy một quả
tạ đi bằng hết sức mình. Đẩy tạ
khỏi tay, anh ta làm một màn loạng
choạng trong khi nhìn theo nó bay
vòng rồi rơi xuống đàng xa.
“Anh biết không,” Brenda nói, “anh
trông giống em. Có điều bự hơn.”
Chúng tôi mặc đồ giống nhau, giày
đế mềm, vớ dày, quần kaki
Bermuda, áo thun dài tay, nhưng
tôi có cảm giác Brenda không nói
chuyện tình cờ ăn mặc giống nhau
– nếu đó là tình cờ. Tôi chắc nàng
muốn nói rằng ít nhiều tôi đã bắt
đầu nhìn sự việc theo kiểu nàng
muốn. Giống như nàng.
“Để xem ai nhanh hơn,” nàng nói,
rồi chúng tôi khởi hành theo đường
chạy. Trong phần tám dặm đầu
tiên ba đứa bé với con chó của
chúng chạy theo bọn tôi. Khi qua
chỗ có anh chàng ném tạ, anh ta
vẫy tay chào; Brenda kêu lên
“Chào!” và tôi mỉm cười, chuyện đó,
bạn có thể biết hoặc không, khiến
những ai muốn chạy một cách
nghiêm túc cảm thấy quá sức ngốc
nghếch. Được một phần tư dặm thì
mấy đứa trẻ bỏ cuộc và trở vô bãi
cỏ, con chó quay đầu chạy theo
hướng ngược lại, và tôi thấy nhoi
nhói bên hông. Tôi vẫn chạy ngang
với Brenda, ở vòng thứ hai nàng lại
kêu “Chào!” với anh chàng ném tạ
may mắn, anh này đã nằm xuống
cỏ, nhìn theo chúng tôi, và xoa quả
tạ cứ như một trái cầu pha lê. A,
tôi nghĩ, thể thao là thế.
“Mình thử ném tạ chơi không?” tôi
thở hổn hển.
“Để sau đã,” nàng nói, và tôi thấy
những giọt mồ hôi bám ở những
đuôi tóc phất phơ sau tai nàng.
Khi chúng tôi được nửa dặm
Brenda đột nhiên rời đường đua
tạt vào bãi cỏ và ngồi phịch xuống;
việc nàng bỏ ngang khiến tôi ngạc
nhiên và tôi vẫn chạy tiếp.
“Ê, Bob Mathias,” nàng gọi, “nằm
phơi nắng đi…”[1]
Nhưng tôi làm như không nghe
nàng gọi và tuy tim tôi đập muốn
văng lên tới cổ họng và miệng khô
như bị hạn hán, tôi vẫn bắt chân
tôi chạy, và thề không dừng lại cho
đến khi chạy xong một vòng nữa.
Khi qua chỗ anh chàng ném tạ lần
thứ ba, tôi kêu “Chào!”
Nàng rất hào hứng khi sau cùng
tôi dừng lại bên nàng. “Anh hay
quá,” nàng nói. Hai tay tôi chống
nạnh và tôi nhìn xuống đất và cố
hớp lấy không khí – hay đúng hơn,
không khí hớp lấy tôi, tôi chẳng có
gì nhiều để nói.
“Ừ hứ,” tôi thở ra.
“Sáng nào cũng chạy vầy đi,” nàng
nói. “Mình sẽ dậy rồi ăn hai trái
bưởi, và anh sẽ ra đây chạy. Em sẽ
tính giờ cho. Trong hai tuần anh sẽ
vượt mức bốn phút, được không,
cưng? Em sẽ mượn đồng hồ bấm
giờ của Ron.” Nàng đang hào hứng
như vậy – nàng chuồi người trên cỏ
và kéo mép vớ qua mắt cá và bắp
chân ướt đẫm của tôi. Nàng cắn
vào xương bánh chè của tôi.
“Được thôi,” tôi nói.
“Rồi mình sẽ về và ăn một bữa
sáng đàng hoàng.”
“Được.”
“Anh lái xe về nghe,” nàng nói, và
đột nhiên nàng bật dậy chạy trước
tôi, và rồi chúng tôi hướng ra chỗ
đậu xe.
Sáng hôm sau, miệng tôi vẫn còn
tê tê vì mấy múi bưởi thì chúng tôi
đã tới đường chạy. Tụi tôi mang
theo đồng hồ bấm giờ và một cái
khăn lớn, để dùng khi tôi chạy
xong.
“Chân anh hơi nhức,” tôi nói.
“Làm vài động tác thể dục đi,”
Brenda nói. “Để em tập với anh.”
Nàng xếp khăn để trên cỏ và chúng
tôi cùng làm động tác gập người,
đứng lên ngồi xuống và hít đất, và
đưa cao đầu gối tại chỗ. Tôi cảm
thấy cực kỳ sung sướng.
“Hôm nay anh chỉ chạy nửa dặm
thôi, Bren. Để xem anh làm được
gì…” và tôi nghe Brenda bấm đồng
hồ, và rồi khi tôi chạy vòng tới bên
kia, mây trôi theo tôi trên cao cứ
như cái đuôi trắng mềm mại của
tôi, tôi thấy Brenda ngồi dưới đất,
ôm đầu gối, hết nhìn theo tôi lại
xem đồng hồ. Chỉ có hai chúng tôi
ở đó, và tất cả gợi tôi nhớ lại một
trong những cảnh của các phim về
đua ngựa, trong đó một tay luyện
ngựa già như Walter Brennan với
một thanh niên đẹp trai tính giờ
cho con ngựa của một cô gái xinh
đẹp vào buổi sáng sớm ở Kentucky,
để xem nó có thật là con ngựa hai
tuổi nhanh nhất trên đời này
không. Dĩ nhiên cũng có những
khác biệt – một trong số đó đơn
giản là ở mức phần tư dặm Brenda
la lên với tôi, “một phút mười bốn
giây,” nhưng nó thật dễ chịu và sôi
động và sạch sẽ và khi tôi chạy
xong Brenda đã đứng dậy chờ tôi.
Thay vì chạm đứt một sợi băng ở
mức đến thì tôi có da thịt ngọt
ngào của Brenda để chạm vào, và
tôi đã làm như thế, và đó là lần
đầu tiên nàng nói nàng yêu tôi.
Chúng tôi chạy – tôi chạy – mỗi
sáng, và đến cuối tuần đó tôi chạy
một dặm hết bảy phút lẻ hai giây,
và lúc nào ở mức đến cũng có tiếng
bấm click ở đồng hồ và vòng tay
của Brenda.
Ban đêm, tôi thường mặc đồ ngủ
đọc sách, trong khi Brenda, bên
phòng nàng, cũng đọc, và chúng
tôi chờ cho Ron đi ngủ. Có đêm
chúng tôi phải chờ lâu hơn mọi
khi, và tôi nghe được tiếng lá reo
bên ngoài, vì cuối tháng Tám trời
đã mát hơn, và ban đêm máy điều
hòa được tắt đi và chúng tôi được
phép mở cửa sổ. Sau cùng Ron
cũng chuẩn bị ngủ. Anh ta sẽ đi
thình thịch trong phòng và ra cửa
chỉ với quần soóc với áo thun và
vào phòng tắm đứng trong đó đái
um sùm và đánh răng. Sau khi anh
ta đánh răng tôi cũng vào đánh
răng. Chúng tôi sẽ chạm mặt nhau
ở hành lang và tôi dành cho anh ta
một câu “Chúc ngủ ngon” thành
thật và chân tình. Khi đã vào
phòng tắm, tôi sẽ dành một lát để
ngắm làn da rám nắng của mình
trong gương; ở phía sau tôi có thể
thấy khố bảo vệ hạ bộ của Ron
phơi trên những núm nước nóng và
lạnh của vòi hoa sen. Chẳng ai
thắc mắc tính thẩm mỹ của nó
trong vai trò vật trang trí, và sau
vài đêm thì tôi cũng chẳng buồn
để ý tới nó luôn.
Trong khi Ron đánh răng còn tôi
nằm trên giường chờ đến lượt
mình, tôi có thể nghe máy quay
đĩa chơi trong phòng anh ta.
Thường thường, sau khi đi chơi
bóng rổ về, anh ta sẽ gọi cho
Harriet – người chỉ còn vài ngày
nữa sẽ tới đây- và rồi cắm cúi vào
tờ Sports Illustrated và nhạc
Mantovani; tuy nhiên, khi ra khỏi
phòng để làm vệ sinh buổi tối, tôi
thường không nghe thấy nhạc
Mantovani, mà là một cái gì khác,
rõ ràng đó là món anh ta có lần gọi
là đĩa Columbus. Tôi tưởng tượng
đó là đĩa tôi đang được nghe, vì tôi
không thể xác định gì nhiều qua
những đoạn nhạc cuối. Tôi chỉ
nghe được những tiếng chuông rền
rĩ đều đều và nền nhạc ái quốc
nhè nhẹ, và lướt trên tất cả là một
giọng hát u uẩn trầm đục theo kiểu
của Edward R. Murrow: “Và thế là
chia tay thôi, Columbus,” giọng hát
cứ rầu rầu, “… chia tay thôi,
Columbus… chia tay thôi…” rồi sau
đó là im lặng và Ron sẽ trở lại
phòng; đèn sẽ tắt và chỉ trong
vòng vài phút tôi có thể nghe tiếng
anh ta rơi vào giấc ngủ sung sướng,
đầy sinh tố, đầy sức phục hồi mà
tôi nghĩ vận động viên nào cũng
hưởng được.
Một sáng kia gần đến giờ chuồn về
phòng tôi có một giấc mơ và khi
tỉnh lại được thì ánh bình minh đã
rọi vào phòng đủ cho tôi nhìn rõ
màu tóc Brenda. Tôi chạm vào
nàng lúc còn ngủ đó, vì giấc mơ đã
khiến tôi bất an: nó diễn ra trên
một con tàu, một tàu buồm cũ như
thứ thường thấy trong những phim
cướp biển. Cùng với tôi trên con
tàu đó là chú bé da đen ở thư viện
– tôi là thuyền trưởng còn cậu là
thuyền phó, và cả thủy thủ đoàn
chỉ có hai chúng tôi. Đó là giấc mơ
dễ chịu được một lúc; chúng tôi
buông neo trong một cảng của một
hòn đảo Thái Bình Dương và trời
nhiều nắng. Trên bờ biển có nhiều
thiếu nữ da màu xinh đẹp, và
không ai trong bọn họ cử động;
nhưng đột nhiên chúng tôi, tức là
con tàu của tôi, di chuyển, rời khỏi
cảng, và những cô gái da đen chậm
chạp đi xuống bãi và bắt đầu ném
những vòng hoa về phía chúng tôi
rồi nói “Chia tay thôi, Columbus…
chia tay thôi, Columbus… chia tay
thôi…” và tuy chúng tôi không
muốn đi, cả cậu bé và tôi, nhưng
con tàu vẫn trôi dần và chúng tôi
không làm gì được, và cậu ta quát
tháo rằng đó là do lỗi của tôi còn
tôi quát đó là lỗi của cậu vì đã
không có thẻ thư viện, nhưng
chúng tôi chỉ phí hơi, vì chúng tôi
ngày càng xa dần hòn đảo, và rồi
chẳng còn người dân đảo nào nữa.
Không gian hoàn toàn mất cân đối
trong giấc mơ, và các sự vật có kích
cỡ và vuông cạnh không theo bất
cứ kiểu nào tôi từng thấy, và tôi
nghĩ chính điều đó chứ không phải
cái gì khác đã đẩy tôi tỉnh dậy. Tôi
không muốn rời chỗ nằm cạnh
Brenda sáng hôm đó, và tôi rờ rẫm
một điểm nhỏ trên gáy nàng, chỗ
tóc bị cắt ngắn đi. Tôi đã ở lại lâu
hơn mức cho phép, và sau cùng khi
trở về phòng tôi gần như đâm sầm
vào Ron khi anh ta đang chuẩn bị
cho một ngày làm việc ở xưởng Bồn
rửa và Bồn tắm Patimkin.
_________________________
[1]Bob Mathias: vận động viên 10
môn phối hợp, huy chương vàng
năm 1948 và 1952