index
HomeGửi Yêu Cầu Truyện
Trang wap đọc truyện giải trí trên mobi
U-ON
Noi-dau-tuoi-21 7Chia tay thôi - Columbus - Philip
Roth - Chương 6
Kỳ: ... 5 [6] 7 8 ...
Sáng hôm đó được coi là sáng
cuối cùng tôi lưu lại nhà
Patimkin; tuy nhiên, khi tôi bắt
đầu nhét đồ vào túi lúc cuối ngày,
Brenda lại bảo tôi có thể bỏ đồ
ra.
Bằng cách nào đó nàng đã xoay xở
thuyết phục bố mẹ nàng đồng ý
một tuần nữa, và tôi có thể ở luôn
đến Lễ Lao động, khi Ron làm đám
cưới xong; rồi, sáng hôm sau đó
Brenda sẽ trở lại trường đại học
còn tôi đi làm tiếp. Vậy là chúng
tôi sẽ ở bên nhau cho đến phút
cuối cùng của mùa hè.
Điều này lẽ ra phải khiến tôi vui
mừng quá đỗi, nhưng khi Brenda
chạy xuống cầu thang để cùng cả
nhà ra phi trường – họ đi đón
Harriet – tôi lại không thấy vui mà
chỉ thấy rầu thúi ruột, vì tôi có ý
nghĩ ngày càng rõ rằng khi Brenda
trở lại Radcliffe, đó sẽ là dấu chấm
hết cho tôi. Tôi thấy chắc rằng
ngay cả cái đôn của bà Winney
cũng không đủ cao cho tôi nhìn
thấu tới Boston. Tuy nhiên, tôi vẫn
móc đồ ra vất vào các ngăn kéo và
sau cùng, đã có thể tự nhủ rằng
Brenda chưa hề có dấu hiệu gì tỏ
vẻ kết thúc chuyện của hai đứa, và
mọi cảm giác nghi ngờ, mọi khó
chịu tôi có, chỉ sinh sôi trong con
tim bất định của tôi. Rồi tôi vào
phòng Ron để gọi điện cho bà dì.
“Alô?” bà lên tiếng.
“Dì Gladys,” tôi nói, “dì khoẻ
không?”
“Mày bệnh à.”
“Không, con đang vui cực kỳ. Con
muốn cho dì hay con sẽ ở chơi
thêm một tuần nữa.”
“Sao vậy?”
“Con nói rồi. Con đang vui cực kỳ.
Bà Patimkin bảo con ở chơi đến Lễ
Lao động.”
“Mày có đủ đồ lót sạch không?”
“Con giặt mỗi tối. Ổn thôi mà, dì
Gladys.”
“Giặt tay không sạch được đâu.”
“Sạch được mà. Kìa, dì Gladys, con
đang vui cực kỳ mà.”
“Thằng ngốc đi ăn nhờ ở đậu mà
bảo tôi đừng lo.”
“Chú Max thế nào?” tôi hỏi.
“Ông ấy phải thế nào nữa? Chú
Max vẫn là chú Max. Mày. Tao
không thích cái giọng mày nói.”
“Sao? Bộ giọng con nghe cứ như
đang mặc đồ lót dơ hả?”
“Mày lanh dữ. Rồi mày sẽ biết.”
“Cái gì ạ?”
“Mày nói cái gì nghĩa là sao? Mày
sẽ hiểu ra. Mày ở đó lâu thì sẽ là
quá tốt cho vợ chồng tao.”
“Không đời nào, dì yêu,” tôi nói.
“Có thấy thì tao mới tin.”
“Ở Newark mát không, dì Gladys?”
“Trời đang có tuyết,” bà ấy nói.
“Cả tuần không mát chút nào sao?”
“Mày ngồi không cả ngày thì thấy
mát. Còn với tao thì bây giờ đâu
phải tháng Hai, tin tao đi.”
“Được rồi, dì Gladys. Cho con gửi
lời chào mọi người.”
“Mày có thư của mẹ mày đấy.”
“Hay quá. Chừng nào về con sẽ
đọc.”
“Mày không chạy xe về mà đọc
được sao?”
“Đâu có gì gấp. Con sẽ gửi thư cho
bố mẹ con. Dì đừng cáu mà,” tôi
nói.
“Còn vớ mày thì sao?”
“Con đi chân không. Tạm biệt, dì
thân yêu.” Và tôi gác máy.
Ở dưới bếp Carlota đã chuẩn bị
xong bữa tối. Tôi luôn ngạc nhiên
vì công việc của Carlota hình như
không bao giờ ảnh hưởng tới cuộc
sống của cô. Cô khiến công việc nội
trợ nhàm chán thành những hoạt
động minh họa cho bất cứ điều gì
cô đang hát, thậm chí, như lúc
này, với bài “I Get a Kick out of
You.” (Có anh em thích quá). Cô ta
đi từ lò sang máy rửa chén bát – cô
nhấn các nút, xoay mặt số, dòm
qua cửa kính của lò nướng, và
thỉnh thoảng lại ngắt một trái nho
đen từ một chùm đặt trong bồn
rửa. Cô ta nhai liên tục, vừa nhai
vừa hát âm ư, và rồi, theo một cách
cẩu thả có tính toán, cô phun bắn
vỏ và hạt vào giỏ đựng rác. Tôi
chào cô khi theo cửa sau ra ngoài,
và tuy cô không chào lại, tôi vẫn
cảm thấy một sự gần gũi với một
người, giống như tôi, đã ít nhiều bị
mê hoặc và chinh phục bởi trái cây
nhà Patimkin.
Ra ngoài sân cỏ tôi ném bóng rổ
một hồi; rồi tôi nhặt một cây gậy
golf và quất một trái banh golf bay
khật khừ vào không gian đầy nắng;
rồi tôi đá một trái banh về phía
cây sồi; rồi tôi lại thử ném rổ phạt
đền. Chẳng gì khiến tôi bận trí
được – tôi cảm thấy bụng dạ trống
hoác, cứ như tôi không ăn gì suốt
mấy tháng vậy, và dù tôi trở vào
nhà và trở ra với một nắm nho, cảm
giác ấy vẫn tiếp tục, và tôi biết
rằng nó chẳng liên quan gì tới
lượng thức ăn tôi đưa vào cơ thể;
nó chỉ là một lan truyền của sự
trống rỗng vẫn xuất hiện khi
Brenda vắng mặt. Dĩ nhiên, ý nghĩ
về sự ra đi của nàng đã có trong
tôi từ lâu, nhưng đột nhiên nó
khoác màu sắc u ám hơn. Một cách
kỳ lạ, sự u ám ấy lại ít nhiều dính
dáng đến Harriet, vợ sắp cưới của
Ron, và có lúc tôi đã nghĩ chẳng
qua là sự xuất hiện của Harriet đã
trầm trọng hóa chuyện thời gian
đang qua: chúng tôi đã đề cập
chuyện đó và đột nhiên nó đến gần
kề – giờ lên đường của Brenda té
ra đã tới trước khi chúng tôi kịp
nhận ra.
Nhưng còn hơn thế nữa: việc
Harriet kết hợp với Ron nhắc tôi
nhớ rằng sự chia cách không nhất
thiết là tình trạng miên viễn.
Người ta có thể cưới nhau, cho dù
họ trẻ! Và tuy Brenda với tôi chưa
từng đề cập chuyện hôn nhân, có
lẽ ngoại trừ đêm đó ở hồ bơi khi
nàng nói, “Khi anh yêu em, mọi
chuyện sẽ ổn.” Phải, tôi yêu nàng,
và nàng yêu tôi, nhưng mọi chuyện
coi bộ không ổn gì cả. Hay là tại tôi
bịa ra những rắc rối? Tôi nghĩ lẽ ra
mình phải thấy số phận mình được
cải thiện rất nhiều; tuy nhiên, trên
bãi cỏ này, trời tháng Tám trông
quá đẹp và mau qua đến chịu
không nổi, và tôi muốn Brenda lấy
tôi. Nhưng kết hôn không phải là
điều tôi đề nghị với nàng khi nàng
lái xe tới trước nhà, một mình, độ
mười lăm phút sau đó. Lời đề nghị
đó hẳn phải cần tới một kiểu can
đảm mà tôi nghĩ là mình chưa có
được. Tôi cảm thấy mình chưa
chuẩn bị cho bất cứ câu trả lời nào
ngoài câu “Lạy Chúa tôi!” mọi kiểu
trả lời đồng ý khác sẽ không làm
tôi thỏa mãn, và mọi câu từ chối,
kể cả kiểu che giấu sau những lời
lẽ như, “Mình hãy chờ đã, cưng,”
cũng có nghĩa là kết thúc với tôi.
Nên tôi tưởng tượng đó là lý do tại
sao tôi đề nghị một chuyện khác,
mà sau cùng nó té ra còn kinh
khủng hơn mức tôi nghĩ vào thời
điểm đó.
“Chuyến bay của Harriet bị trễ, nên
em lái xe về,” Brenda nói.
“Thế mọi người đâu?”
“Họ chờ và ăn tối ở phi trường. Em
phải cho Carlota hay,” và nàng đi
vào trong.
Vài phút sau nàng xuất hiện trên
thềm. Nàng mặc một cái váy màu
vàng cổ khoét hình chữ U ra tới hai
vai, và làm lộ ra toàn bộ phần da
rám nắng phía trên bộ ngực nàng.
Ra đến bãi cỏ nàng bỏ đôi giày cao
gót và đi chân trần tới chỗ tôi ngồi
dưới bóng cây sồi.
“Phụ nữ lúc nào cũng đi giày cao
gót sẽ bị lệch buồng trứng,” nàng
nói.
“Ai bảo em thế?”
“Em không nhớ. Em thích nghĩ mọi
sự vẫn đâu vào đấy trong đó.”
“Brenda, anh muốn yêu cầu em
một việc…”
Nàng kéo cái mền có chữ O to
tướng lại chỗ tôi và ngồi xuống.
“Cái gì?” nàng hỏi.
“Anh biết vụ này hơi bất ngờ, tuy
thực ra không phải vậy… Anh muốn
em mua một cái màng tránh thai.
Cứ tới bác sĩ nào đó hỏi mua một
cái.”
Nàng mỉm cười. “Đừng lo, cưng,
mình rất cẩn thận. Mọi chuyện đều
ổn.”
“Nhưng thế là an toàn nhất.”
“Mình an toàn mà. Việc đó chỉ lãng
phí.”
“Tạisao lại để bị rủi ro?”
“Nhưng mình đâu bị rủi ro. Anh
cần đến bao nhiêu thứ?”
“Kìa cưng, anh đâu có quan tâm
đến khối lượng. Thậm chí đó không
phải là an toàn nữa.”
“Anh chỉ muốn em có một cái, phải
vậy không? Như cây gậy cầm tay,
hay cái nón bảo hiểm…”
“Brenda, anh muốn em có một cái
vì… chỉ để sướng thôi.”
“Sướng? Ai sướng? Bác sĩ hả?”
“Anh sướng,” tôi nói.
Nàng không đáp, chỉ rà ngón tay
dọc gờ xương đòn để chùi những
hạt mồ hôi li ti đột nhiên hiện ra
ở đó.
“Không, Neil, chuyện đó thật ngốc.”
“Tại sao?”
“Tại sao? Nó chỉ vậy thôi.”
“Em biết tại sao nó ngốc mà,
Brenda – bởi vì anh yêu cầu em
làm chuyện đó.”
“Vậy lại còn ngốc hơn.”
“Nếu em muốn anh mua một cái
màng tránh thai thì mình chỉ cần
lật Những trang vàng và tìm một
tay bác sĩ phụ khoa có làm việc
chiều thứ Bảy.”
“Em chẳng bao giờ yêu cầu anh
làm chuyện đó.”
“Đó là sự thật,” tôi nói, tuy đang
mỉm cười. “Đó là sự thật.”
“Không phải,” nàng nói, rồi đứng
dậy và đi ra sân bóng rổ, ở đó
nàng bước trên lằn vôi trắng mà
ông Patimkin mới vạch hôm trước.
“Trở lại đây đi,” tôi nói.
“Neil, chuyện đó ngốc và em không
muốn nói chuyện đó nữa.”
“Sao em ích kỷ vậy?”
“Ích kỷ? Anh mới là người ích kỷ
chứ. Chính vì cái sướng của anh
mà…”
“Được rồi. Cái sướng của anh. Tại
sao không chứ!”
“Đừng lên giọng như thế. Carlota
ơi.”
“Bước lại đây giùm coi,” tôi nói.
Nàng bước về phía tôi, để lại dấu
chân trắng trên cỏ. “Em không nghĩ
anh là sinh vật trần tục vậy,” nàng
nói.
“Em không ngờ sao?” tôi nói. “Anh
chỉ nói cho em nghe điều em phải
biết. Anh thậm chí không hề nói
tới chuyện khoái lạc xác thịt.”
“Vậy thì nói thẳng, em không biết
anh đang nói về cái gì. Tại sao anh
lại lo nghĩ vậy. Thứ mình xài chưa
đủ sao?”
“Anh lo nghĩ chỉ vì anh muốn em
tới một bác sĩ và mua một màng
tránh thai. Vậy thôi. Không giải
thích. Chỉ làm thế thôi. Hãy làm vì
anh yêu cầu.”
“Anh không chút hợp lý…”
“Mẹ kiếp, Brenda!”
“Mẹ kiếp chính anh thì có!” nàng
nói và đi luôn vào nhà.
Tôi nhắm mắt, dựa ra sau và trong
mười lăm phút, hoặc ít hơn, tôi
nghe tiếng ai vụt trái banh golf.
Nàng đã thay quần soóc và áo thun
và vẫn đi chân không.
Chúng tôi chẳng nói gì với nhau,
nhưng tôi nhìn nàng giơ cây gậy
tới mang tai, cằm nàng nghếch lên
theo đường bay mà một trái banh
golf bình thường sẽ bay qua.
“Cú đó năm trăm thước,” tôi nói.
Nàng không đáp nhưng đi theo trái
banh và lại sẵn sàng cho một cú
vụt khác.
“Brenda. Lại đây giùm đi mà.”
Nàng bước lại, kéo lê cây gậy trên
cỏ.
“Gì vậy?”
“Anh không muốn tranh luận với
em.”
“Em cũng không muốn,” nàng nói.
“Đây là lần đầu.”
“Anh yêu cầu chuyện đó là khó
chịu lắm sao?”
Nàng gật đầu.
“Bren, anh biết có lẽ chuyện đó hơi
bất ngờ. Chuyện đó là vì anh.
Nhưng tụi mình đâu còn trẻ con
nữa.”
“Neil, đơn giản là em không muốn
làm. Mà cũng không phải vì anh
yêu cầu nữa. Em không hiểu anh
kiếm đâu ra ý nghĩ đó. Nó không
phải vậy.”
“Vậy nó là tại sao?”
“Ồ, tại mọi thứ. Em chỉ cảm thấy
mình chưa đủ già để phải xài thứ
đó.”
“Tuổi tác thì có dính gì với vụ
này?”
“Em không ám chỉ chuyện tuổi tác.
Em chỉ muốn ám chỉ – ơ, chính em.
Em thấy chuyện đó trơ tráo quá
làm không được.”
“Dĩ nhiên là quá trơ tráo. Chính
xác là thế. Em không thấy sao? Nó
sẽ biến đổi chúng ta.”
“Nó sẽ biến đổi em.”
“Cả hai đứa. Với nhau.”
“Neil, anh biết em cảm thấy thế
nào khi phải nói láo với bác sĩ
không.”
“Em có thể tới phòng khám
Margaret Sanger, ở New York. Họ
không hỏi han gì cả.”
“Anh đã từng làm chuyện này rồi
à?”
“Không,” tôi nói. “Anh chỉ biết vậy
thôi. Anh có đọc Mary
McCarthy.”[1]
“Hết sức đúng. Đó là điều em cảm
thấy về mình, như một ai đó thoát
thai từ bà ấy.”
“Đừng bi thảm hóa,” tôi nói.
“Anh mới là người bi thảm hóa.
Anh nghĩ chuyện này sẽ có vẻ hết
sức qua đường. Mùa hè rồi, tao có
chơi với con nhỏ đó, tao biểu nó đi
mua…”
“Ôi, Brenda, em đúng là con ngựa
ích kỷ lấy mình làm trung tâm! Em
chính là người nghĩ chuyện ‘mùa
hè rồi’, về kết thúc cho chuyện hai
đứa ta. Sự thực, đó là toàn bộ vấn
đề, không phải nó…”
“Đúng thế. Tôi là con ngựa. Tôi
muốn chuyện này kết thúc. Thế
cho nên tôi mới kêu anh ở chơi
thêm một tuần nữa, và cho anh
ngủ với tôi ngay trong nhà tôi. Anh
có vấn đề gì vậy ! Sao anh với mẹ
tôi không thay phiên nhau luôn đi
– bữa nay bà ấy hành, bữa kế tới
anh…”
“Thôi đi !”
“Qủi tha ma bắt hết mấy người
đi !” Brenda nói, và bây giờ nàng
bật khóc và khi nàng bỏ chạy đi tôi
biết tôi sẽ không thấy mặt nàng
cho đến hết buổi chiều đó, và quả
thực như vậy.
* * *
Harriet Ehrlich khiến tôi có ấn
tượng cô ta như một tiểu thư hoàn
toàn không ý thức gì về một động
cơ ở chính cô hoặc người khác. Tất
cả là bề ngoài, và cô ta có vẻ thật
xứng với Ron, và với cả nhà
Patimkin luôn. Sự thực, bà
Patimkin đã cư xử y như Brenda đã
tiên đoán: Harriet xuất hiện, và bà
mẹ Brenda nhấc một bên cánh lên
rồi kéo cô gái vào chỗ ấm áp cạnh
người bà, nơi mà chính Brenda
chắc cũng muốn rúc vào. Harriet có
vóc dáng giống Brenda, tuy hơi có
ngực hơn, và cô ta gật đầu bền bỉ
mỗi khi có ai nói gì. Đôi khi cô ta
thậm chí còn nói theo bạn mấy từ
cuối câu, tuy không thường xuyên
lắm; chủ yếu là cô ta gật đầu và
khoanh hai tay lại. Suốt buổi tối,
trong khi nhà Patimkin bàn chuyện
cặp vợ chồng mới cưới này sẽ sống
ở đâu, phải mua sắm đồ đạc gì,
bao lâu thì phải có em bé – suốt
lúc đó tôi cứ nghĩ Harriet đang đeo
găng trắng, nhưng thực ra là
không.
Brenda với tôi chẳng liếc nhìn hay
nói với nhau một lời; chúng tôi
ngồi đó, lắng nghe, Brenda té ra
thiếu kiên nhẫn hơn tôi. Gần cuối
buổi Harriet bắt đầu gọi bà
Patimkin là “Mẹ”, và có một lần, gọi
là “Mẹ Patimkin,” và đó là lúc
Brenda đi ngủ. Tôi ngồi lại, hầu
như bị mê hoặc vì kiểu mổ xẻ,
phân tích, xem xét, và sau cùng,
cách bao quát những tiểu tiết. Rồi
ông bà Patimkin cũng lục tục đi
ngủ, và Julie, cô bé đã ngủ gục
ngay trên ghế, được Ron bế lên
phòng. Còn lại là hai kẻ không
mang họ Patimkin chúng tôi.
“Anh Ron nói anh có một công việc
thú vị.”
“Tôi làm việc trong thư viện.”
“Tôi lúc nào cũng thích đọc.”
“Thế tuyệt quá, việc kết hôn với
Ron đó.”
“Ron thích nhạc.”
“Phải,” tôi nói. Tôi đã nói gì nhỉ?
“Đầu tiên anh phải thử sức với
những tác phẩm bán chạy nhất,” cô
ta nói.
“Đôi khi.” Tôi nói.
“Rồi,” cô ta nói, vỗ hai tay lên đầu
gối, “tôi chắc mình sẽ rất vui với
nhau. Ron với tôi hy vọng anh với
Brenda sẽ sớm bước cặp với tụi
tôi.”
“Nhưng tối nay thì không,” tôi mỉm
cười. “Hẹn gặp lại. Xin phép cô
nhé?”
“Chúc ngủ ngon. Tôi rất thích
Brenda.”
“Cám ơn,” tôi nói khi bắt đầu bước
lên thang.
Tôi gõ nhẹ cửa phòng Brenda.
“Em ngủ rồi.”
“Anh vào được không?” tôi hỏi.
Cửa phòng nàng hé ra một chút và
nàng nói. “Ron lên liền bây giờ
đó.”
“Mình sẽ để cửa mở. Anh chỉ muốn
nói chuyện.”
Nàng để tôi vào và tôi ngồi trên cái
ghế quay mặt vào giường.
“Em thích bà chị dâu không?”
“Em đã gặp chị ấy trước rồi.”
“Brenda, em đâu cần ăn nói căng
thẳng thế.”
Nàng không đáp và tôi chỉ ngồi đó
kéo dây rèm cho nó chạy lên chạy
xuống.
“Em vẫn còn giận hả?” sau cùng tôi
hỏi.
“Ừ.”
“Đừng mà,” tôi nói. “Em có thể
quên đề nghị của anh đi. Nó chẳng
đáng nếu chuyện tụi mình xảy ra
thế này.”
“Thế anh mong nó xảy ra thế nào?”
“Chẳng mong gì cả. Anh không nghĩ
nó lại kinh khủng đến thế.”
“Đó là do anh không hiểu được
phía bên em.”
“Có lẽ.”
“Không có lẽ gì trong vụ này cả.”
“Thôi được,” tôi nói. “Anh chỉ mong
em nhận ra em đang giận cái gì.
Em không giận cái đề nghị của
anh, Brenda ạ.”
“Không phải à? Thế em giận cái
gì?”
“Giận chính anh.”
“Ôi, đừng tiếp tục kiểu đó nữa,
được không? Dù nói gì thì em cũng
không thắng được.”
“Có, em thắng chứ,” tôi nói. “em đã
thắng.”
Tôi bước ra khỏi phòng nàng, khép
cửa lại sau lưng và không chạm lại
vào nó cả đêm ấy.
Khi tôi xuống nhà vào sáng hôm
sau thì mọi người đang tíu tít công
việc. Trong phòng khách tôi nghe
bà Patimkin đọc cho Harriet một
danh sách trong khi Julie chạy ra
chạy vào các phòng để tìm một cái
khóa vặn ốc giày trượt băng.
Carlota đang hút bụi tấm thảm;
mọi dụng cụ trong bếp đều đang
sôi lụp bụp, xoay tròn, và rung lắc
bần bật. Brenda chào tôi với một
nụ cười hết sức thoải mái và trong
phòng ăn, nơi tôi bước vào để nhìn
ra sân sau xem thời tiết thế nào,
nàng khẽ hôn vào vai tôi.
“Chào,” nàng nói.
“Chào.”
“Sáng nay em phải đi với Harriet,”
Brenda bảo tôi. “Nên mình không
chạy bộ được. Trừ khi anh muốn
chạy một mình.”
“Không. Anh sẽ đọc hay làm gì đó.
Em đi đâu vậy?”
“Tụi em đi New York. Mua sắm. Chị
ấy mua áo cưới. Để sau lễ cưới chị
mặc nó đi hưởng tuần trăng mật.”
“Còn em định mua gì?”
“Một cái váy làm phù dâu. Nếu em
đi với Harriet thì em có thể tới
Bergdorf mà không bị mẹ càm ràm
chuyện phải mua ở Ohrbach.”
“Mua cho anh một món, được
không?” tôi nói.
“Ôi, Neil, anh lại nói chuyện đó
nữa à!”
“Anh chỉ đùa thôi. Thậm chí anh
chẳng còn nghĩ tới nó nữa.”
“Thế sao anh nói vậy?”
“Ôi Chúa ơi !” tôi nói, rồi đi ra
ngoài lái xe tới trung tâm Millburn
để ăn sáng với trứng và cà phê.
Khi tôi trở về, Brenda đã đi khỏi, và
chỉ còn bà Patimkin, Carlota và tôi
ở nhà. Tôi cố tình không bước vào
phòng nào có mặt họ, nhưng sau
cùng té ra tôi với bà Patimkin lại
ngồi đối diện nhau trong phòng
tivi. Bà đang kiểm lại các tên họ
trên một tờ giấy dài cầm trên tay;
cạnh bà, trên bàn, là hai cuốn sổ
ghi số điện thoại mà thỉnh thoảng
bà lại lật ra xem.
“Người mệt nhọc chẳng được nghỉ
ngơi gì cả,” bà nói với tôi.
Tôi nhe răng cười, chấp nhận câu
tục ngữ cứ như bà Patimkin vừa
mới chế ra nó. “Phải, dĩ nhiên,” tôi
nói. “Bác cần cháu giúp không?
Cháu có thể giúp bác kiểm tra cái
gì đó.”
“Ồ, không,” bà nói với cái lắc đầu
từ chối, “Nó là cho hội Hadassah.”
“Ồ,” tôi nói.
Tôi ngồi và nhìn bà cho đến khi bà
hỏi, “Mẹ cậu có trong hội Hadassah
không?”
“Cháu không rõ bây giờ mẹ cháu
còn sinh hoạt không. Mẹ cháu đã
sống ở Newark mà.”
“Bà ấy là hội viên hoạt động hả?”
“Cháu đoán vậy, trước mẹ cháu
luôn trồng cây ở Israel cho ai đó.”
“Vậy sao?” bà Patimkin nói. “Mẹ
cậu tên gì?”
“Esther Klugman. Bây giờ mẹ cháu
đang ở Arizona. Ở đó có chi hội
Hadassah không?”
“Ở đâu có phụ nữ Do Thái là có.”
“Vậy cháu nghĩ mẹ cháu còn sinh
hoạt. Mẹ cháu ở với bố cháu. Họ
sống ở đó để đỡ bệnh suyễn. Cháu
đang sống với bà dì ở Newark. Bà
ấy không tham gia Hadassah.
Nhưng bà dì Sylvia của cháu thì có.
Bác biết họ không, Aaron với Sylvia
Klugman? Họ cùng hội với bà. Họ
có đứa con gái tên là Doris…” tôi
không dừng lại được, “… Họ sống ở
Livingstone. Có thể dì Sylvia không
tham gia Hadassah. Cháu nghĩ đó
là một tổ chức bài lao nào đó. Hay
ung thư. Có lẽ là loạn dưỡng cơ.
Cháu biết dì ấy quan tâm tới thứ
bệnh tật gì đó.”
“Vậy là rất tốt,” bà Patimkin nói.
“Ồ đúng vậy.”
“Họ làm việc tốt lắm đấy.”
“Cháu hiểu.”
Bà Patimkin, tôi nghĩ, đã bắt đầu
thấy thích tôi; đối mắt tím của bà
thôi không nhìn nheo nheo nữa mà
chỉ nhìn quanh mọi sự mà không
phê phán gì cả. “Cậu có quan tâm
đến B’nai Brith không?” bà hỏi tôi.
“Ron sắp vào hội đó, ngay khi lấy
vợ xong.”
“Cháu cũng cố đợi tới lúc đó,” tôi
nói.
Nản chí, bà Patimkin trở lại với mấy
cái danh sách, và tôi nhận ra mình
thật ngốc khi dám bông đùa với bà
trong những chuyện dính tới dân
Do Thái. “Bác cũng hoạt động tích
cực trong đền thờ chứ?” tôi hỏi với
tất cả vẻ quan tâm có thể huy
động được.
“Phải,” bà nói.
“Cậu đi đền thờ nào?” bà hỏi sau
một lát.
“Nhà cháu thường đi đền Hudson
Street. Từ hồi ba mẹ cháu đi, cháu
chẳng sinh hoạt gì nhiều.”
Tôi không rõ bà Patimkin có nhận
ra giọng vờ vịt của tôi không. Bản
thân tôi thì nghĩ rằng mình đã
đóng trò rầu rĩ thú nhận rất ngon
lành, nhất là khi tôi kể lại thời kỳ
vô tín ngưỡng trước khi bố mẹ tôi
đi xa.Nhưng bà Patimkin đã hỏi
ngay – và coi bộ rất chiến lược –
“Nhà tôi luôn đi lễ tối thứ Sáu. Sao
cậu không đi chung? Ý tôi là, cậu
thuộc phái chính thống hay bảo
thủ?”
Tôi ngần ngừ. “Ơ, cháu không sinh
hoạt lâu nay… Cháu đã đổi…” tôi
mỉm cười. “Cháu chỉ là người Do
Thái,” tôi nói đầy thành thật,
nhưng như thế cũng đã đẩy bà
Patimkin trở về với cái hội
Hadassah của bà. Tôi tuyệt vọng cố
nghĩ ra cái gì đó để thuyết phục bà
rằng tôi không phải kẻ rối đạo. Sau
cùng tôi hỏi: “Bác biết công trình
của Martin Buber không?”
“Buber… Buber,” bà nói, mắt vẫn
nhìn danh sách Hadassah. “Ông ấy
chính thống hay bảo thủ?” bà hỏi.
“Ông ta là triết gia.”
“Bộ ông ta cải cách hả?” bà hỏi,
bực bội vì kiểu tránh né của tôi
hoặc vì khả năng Buber có thể dự
lễ tối thứ Sáu mà không đội mũ, và
bà Buber chỉ có một bộ chén dĩa
trong bếp.
“Chính thống,” tôi nói yếu xìu.
“Thế thì tốt,” bà nói.
“Dạ.”
“Đền Hudson Street cũng chính
thống hả?” bà hỏi.
“Cháu không biết.”
“Tôi tưởng cậu là giáo hữu ở đó.”
“Cháu làm lễ thêm sức ở đó.”
“Và cậu không biết nó là chính
thống?”
“Có. Cháu biết chứ. Nó chính
thống.”
“Vậy cậu cũng phải là chính
thống.”
“Dạ, phải,” tôi nói. “Còn bác thì
sao?” tôi buột miệng, đỏ cả mặt.
“Chính thống. Ông nhà tôi thì bảo
thủ,” tôi suy ra vậy có nghĩa là, ông
ta chẳng quan tâm. “Brenda chắc
cậu biết, chẳng theo gì cả.”
“Ồ?” tôi nói. “Không, cháu không
biết vụ đó.”
“Nó là đứa học tiếng Hebrew giỏi
nhất mà tôi từng gặp,” bà Patimkin
nói, “nhưng rồi, dĩ nhiên, nó trở
nên quá tự phụ.”
Bà Patimkin nhìn tôi, và tôi tự hỏi
phép lịch sự có yêu cầu tôi phải
tán thành hay không. Sau cùng tôi
đành nói, “Ồ, cháu không biết.”
“Tôi đã nói Brenda là phái bảo
thủ. Có lẽ hơi cải cách nữa…”
Điện thoại reo, cứu thoát tôi, và tôi
thầm đọc một lời cầu nguyện chính
thống với Thượng Đế.
“A lô,” bà Patimkin nói. “… không…
Tôi không thể. Tôi còn phải gọi
điện cho cả hội Hadassah…”
Tôi vờ như đang lắng nghe lũ chim
bên ngoài, tuy cửa sổ đóng kín
chẳng để lọt chút âm thanh thiên
nhiên nào.
“Bảo Ronald chở nó lên… Nhưng
mình không chờ được, không thể
được nếu mình muốn nó đúng
giờ…”
Bà Patimkin liếc nhìn tôi; rồi bà lấy
tay che ống nói. “Cậu chạy xe về
Newark giùm được không?”
Tôi đứng dậy. “Được chứ bác.”
“Ông ơi?” bà lại nói vào điện thoại,
“Neil sẽ xuống chở… Không, Neil,
bạn con Brenda đó… Ừ… Tạm
biệt.” Rồi bà quay sang tôi. “Ông
Patimkin có mấy mẫu đồ bạc mà tôi
muốn coi. Cậu chạy xe về đó chở
nó về đây được không?”
“Dĩ nhiên.”
“Cậu biết xưởng chỗ nào không?”
“Biết ạ.”
“Đây,” bà nói, đưa xâu chìa khóa
cho tôi, “Lấy cái Volkswagen mà đi.”
“Xe cháu đậu ngay ngoài kia.”
“Lấy cái này đi,” bà nói.
* * *
Xưởng Bồn rửa và Bồn tắm Patimkin
nằm ngay giữa khu da đen của
Newark. Nhiều năm trước, vào giai
đoạn di dân dữ dội, nó từng là khu
Do Thái, và đến giờ người ta vẫn
còn thấy những cửa hàng cá nhỏ
bé, những tiệm bán đồ ăn kiêng
theo luật Do Thái, những nhà tắm
kiểu Thổ, nơi ông bà tôi đã mua
sắm và tắm táp hồi đầu thế kỷ.
Ngay cả mùi của chúng vẫn còn
đâu đây: mùi cá hồi trắng, thịt bò
muối, cà chua ngâm dấm – nhưng
bây giờ, trùm lên tất cả, là mùi dầu
mỡ của các xưởng phế liệu xe hơi,
mùi chua lè của xưởng bia, mùi
khen khét của xưởng thuộc da, và
trên đường phố, thay vì tiếng Do
Thái, người ta thường nghe tiếng la
hét của trẻ con da đen chơi ở bãi
Willie Mays với một cái cán chổi và
nửa trái banh cao su. Khu lân cận
đã thay đổi: những người Do Thái
già như ông bà tôi đã phấn đấu và
đã chết, con cháu họ đã phấn đấu
và giàu lên, và đã chuyển đi ngày
càng xa về phía tây, về phía ngoại
vi Newark, rồi vượt khỏi đó, lên
sườn núi Orange, cho đến khi họ
lên tới đỉnh và bắt đầu đi xuống
sườn bên kia, tràn vào vùng lãnh
thổ phi-Do-Thái giống như dân
Ireland và Scotland đã tràn qua
đèo Cumberland. Thực ra, bây giờ
người da đen cũng đang làm một
cuộc di cư như vậy, theo bước chân
người Do Thái, và những ai còn ở
lại khu quận Ba này đã sống một
đời cực kỳ khốn khổ và nằm trên
những tấm nệm bốc mùi của họ để
mơ tới mùi cây thông của những
đêm tại Georgia.
Tôi tự hỏi, chỉ trong giây lát, liệu
mình có gặp cậu bé da màu ở thư
viện ngay trên những đường phố ở
đây không. Dĩ nhiên, tôi không gặp
tuy tôi chắc rằng cậu sống ở một
trong những tòa nhà nhếch nhác,
lở lói kia lúc nào cũng có chó, trẻ
con, và đàn bà quấn tạp dề đi tới
đi lui. Trên tầng thượng, những
cửa sổ mở toang, và những người
rất già, vốn từ lâu chẳng còn lụm
cụm lê theo những cầu thang dài
thượt để xuống tới mặt đường,
được đặt ở đâu thì cứ ngồi yên chỗ
đó, bên trong những cửa sổ không
lưới, tựa khuỷu tay trên những cái
gối xẹp lép, và đầu họ rũ tới trước,
nhìn theo cuộc bon chen của đám
thanh niên và những phụ nữ có
mang và lũ thất nghiệp. Ai sẽ tiếp
bước người da đen? Ai bị bỏ lại?
Chẳng ai cả, tôi nghĩ, và một ngày
nào đó những con phố này, nơi bà
nội tôi uống trà nóng trong một cái
ly cũ kỹ, sẽ hoàn toàn vắng người
và tất cả chúng tôi hẳn đã dời lên
tận đỉnh dãy Orange, và lúc đó bộ
những người chết nằm trong hòm
sẽ không ngừng đá vào lớp ván
sao?
Tôi đậu cái Volkswagen ngay trước
một cổng gara lớn với bảng hiệu
chạy ngang đàng trước:
XƯỞNG BỒN RỬA VÀ BỒN TẮM
PATIMKIN
“Đủ cỡ – Đủ kiểu”
Bên trong tôi có thể thấy một văn
phòng gắn kiếng kín mít nằm giữa
một nhà kho mênh mông. Hai xe
tải đang được chất hàng ở phía
sau, và ông Patimkin, khi tôi thấy,
đang ngậm một điếu xì gà và quát
tháo với ai đó. Người đó là Ron,
đang mặc áo thun có in dòng chữ
Hiệp hội Điền kinh bang Ohio
trước ngực. Tuy anh ta cao hơn ông
Patimkin, và cũng to con ngang
ngửa, nhưng đôi tay anh ta thả
xuôi xị bên mình cứ như của một
chú nhóc; điếu xì gà bập phà trên
miệng ông Patimkin. Sáu anh da
đen đang chất hàng cho một trong
mấy chiếc xe tải bằng cách thảy
chuyền cho nhau – ruột tôi thót lại
– những cái bồn rửa tay.
Ron rời khỏi chỗ ông Patimkin và
trở lại chỉ đạo đám nhân công. Anh
ta vung tay tán loạn nhưng nhìn
chung trông anh ta có vẻ khá bối
rối, anh ta coi bộ không hề lo
chuyện ai đó sẽ làm rớt cái bồn sứ.
Đột nhiên tôi lại thấy chính mình
đang điều khiển đám thợ da đen
đó – trong một giờ chắc tôi đã bị
một khối loét. Tôi hầu như nghe
được tiếng đồ men sứ vỡ tan dưới
sàn. Và tôi nghe mình la: “Coi
chừng, cha nội. Cẩn thận chút,
được không? Ốiii! Làm ơn… coi
chừng! Coi chừng! Ô!” Giả sử như
ông Patimkin sẽ tới bên tôi và nói,
“Được rồi, con trai, cậu muốn cưới
con gái tôi, để coi cậu làm được
gì.” Được, ông sẽ coi: trong chốc lát
sàn nhà sẽ là một bức tranh ghép
vỡ tan tác, một lối đi toàn mảnh sứ
vụn. “Klugman, cậu là thứ thầy thợ
nào vậy? Cậu làm cứ như ăn!”
“Đúng rồi, đúng rồi, tôi là con chim
sẻ, để tôi đi thôi.” “Thậm chí cậu
cũng không biết chất hàng đổ hàng
nữa hả?” “Ông Patimkin, ngay cả
việc thở với tôi cũng gian nan, ngủ
cũng làm tôi kiệt sức, để tôi đi
thôi…”
Ông Patimkin đã quay trở lại căn
phòng lắp kiếng để trả lời điện
thoại, và tôi rùng mình thoát khỏi
cơn mơ màng và cũng đi về phía
văn phòng. Khi tôi bước vào, ông
Patimkin ngước lên nhìn; điếu xì
gà ướt nhẹp trên tay vẫy về phía
tôi, một lời chào. Ở ngoài tôi nghe
được Ron gào lên, “Mấy ông đâu có
nghỉ ăn trưa một lượt được. Mình
đâu còn nhiều thời gian!”
“Ngồi đi,” ông Patimkin bảo tôi, tuy
khi ông ta tiếp tục điện đàm thì tôi
thấy trong phòng chỉ có một cái
ghế, dành cho ông ta. Người ta
không ngồi ở Bồn tắm Patimkin – ở
đây bạn kiếm ra đồng tiền rất cực
nhọc, ở tư thế đứng. Tôi bèn xoay
ra ngắm mấy cuốn lịch treo ở mấy
tủ hồ sơ; chúng in tranh vẽ những
phụ nữ phơi đùi phơi ngực trông
rất mộng mơ và ly kỳ đến độ không
thể gọi là khiêu dâm được. Đám
họa sĩ vẽ ra lũ con gái trên lịch này
cho mấy thứ như “Công ty xây
dựng Lewis” rồi “Xưởng sửa chữa
xe hơi Earl” và “Hãng hộp giấy
Grossman và Con trai” đã bịa ra
một giống thứ ba tôi chưa từng
được thấy.
“Được rồi, chắc ăn mà,” ông
Patimkin nói vào điện thoại. “Ngày
mai, đừng nói với tôi ngày mai.
Ngày mai thế giới nổ tung rồi.”
Đầu dây bên kia có người đang nói.
Ai vậy? Lewis ở công ty xây dựng?
Earl ở xưởng sửa chữa xe hơi?
“Tôi đang điều hành một doanh
nghiệp, Grossman, chứ không phải
một cơ sở từ thiện.”
Vậy là Grossman đang bị rủa xả ở
đầu dây bên kia.
“Ỉa vào đó,” ông Patimkin nói. “Ông
đâu phải tay duy nhất ở xứ này,
bạn già,” và ông ta nháy mắt với
tôi.
Ah-ha, một âm mưu chống lại
Grossman. Giữa tôi với ông
Patimkin. Tôi mỉm cười một cách
đồng lõa theo kiểu tôi biết.
“Thôi được rồi, chúng tôi còn ở đây
tới năm giờ… Không trễ hơn.”
Ông ta viết cái gì đó vào một mẩu
giấy. Đó chỉ là một chữ X tổ bố.
“Con trai tôi sẽ có mặt ở đây,” ông
ta nói. “Phải, nó cũng vô nghề rồi.”
Grossman nói gì đó bên đầu dây
kia khiến ông Patimkin bật cười.
Rồi ông gác máy mà không nói tạm
biệt gì ráo.
Ông ta nhìn ra phía sau coi Ron
làm ăn ra sao. “Bốn năm đại học
mà nó không dỡ hàng một cái xe
tải được.”
Tôi không biết phải nói gì nhưng
sau cùng tôi chọn sự thật. “Chắc
cháu cũng không làm được.”
“Mình học được. Tôi là cái gì, thiên
tài chắc? Tôi học. Chăm chỉ thì
chẳng ai chết cả.”
Tôi đồng ý điều đó.
Ông Patimkin nhìn điếu xì gà. “Làm
việc chăm chỉ thì người ta có được
cái gì đó. Cứ ngồi một chỗ thì
chẳng đi đến đâu cả, cậu biết đó…
Những người bảnh nhất nước này
cũng phải lao động chăm chỉ. Kể
cả Rockfeller. Thành công không
phải tự nhiên mà tới…” Ông ta
không nói đến cỡ này khi ông nghĩ
ra nó trong lúc giám sát lãnh địa
của mình. Ông ta không phải mẫu
người mê chữ nghĩa, và tôi có cảm
giác rằng điều đã dẫn ông đến
hàng lô những nhận định tổng
quát này có lẽ là kết hợp giữa sự
có mặt của tôi và hiệu quả công
việc của Ron – tôi, người ngoài mà
một ngày kia có thể thành kẻ trong
gia đình. Nhưng liệu ông Patimkin
có xét đến khả năng đó không? Tôi
chẳng biết; tôi chỉ biết rằng vài lời
ông ta nói ra khó có thể chuyển tải
toàn bộ sự thỏa mãn và ngạc nhiên
của ông với cuộc sống mà ông đã
xoay xở tạo dựng được cho chính
ông và gia đình.
Ông lại nhìn ra chỗ Ron. “Nhìn nó
kìa, nếu nó chơi bóng rổ kiểu đó
thì người ta đuổi mẹ nó ra khỏi sân
rồi.” Nhưng khi nói thế ông ta lại
mỉm cười.
Ông đi đến bên cửa lớn. “Ronald,
cho họ đi ăn trưa đi.”
Ron la đáp, “Con tính cho một
nhóm đi, rồi một nhóm ăn sau.”
“Sao vậy?”
“Vậy thì lúc nào cũng có người…”
“Đừng vớ vẩn,” ông Patimkin quát.
“Tất cả nghỉ ăn trưa liền.”
Ron quay lại. “Thôi được, mình ăn
trưa!”
Ông Patimkin lại nhìn tôi. “Sáng
dạ, hả?” ông tay vỗ vào đầu. “Vụ đó
cần cái đầu, ha? Nó không hết lòng
với công việc. Nó lý tưởng quá,” và
lúc đó tôi nghĩ ông Patimkin đột
nhiên nhận ra tôi là ai, và hăng hái
điều chỉnh để đừng làm tôi mích
lòng. “Thôi được, cậu biết đó, nếu
cậu là thày giáo, hoặc như cậu là
sinh viên hay đại loại như thế. Ở
đây cậu cần có chút chất gonif
trong người. cậu hiểu chữ gonif
mà, phải không?”
“Trộm cắp,” tôi nói.
“Anh hiểu biết hơn mấy đứa con
tôi đó. Tụi nó còn con nít, chỉ hiểu
được cỡ đó thôi.” Ông ta nhìn
nhóm thợ da đen đi ngang qua văn
phòng và la lên với họ, “Một tiếng
không lâu đâu, phải không? Một
tiếng trở lại nghe!”
Ron bước vào văn phòng và dĩ
nhiên là bắt tay tôi.
“Anh có mớ đó cho bà Patimkin
chưa?” tôi hỏi.
“Ronald, lấy cho cậu ấy mấy mẫu
đồ bạc.” Ron quay đi và ông
Patimkin nói, “Hồi tôi lấy vợ, tụi tôi
mua dao nĩa ở cửa hàng năm tới
mười đô. Bọn trẻ bây giờ đòi ăn với
dao nĩa bằng vàng kìa,” nhưng ông
không có chút giận dữ, mà còn
ngược lại kìa.
* * *
Chiều hôm đó tôi lái xe của mình
lên vùng núi, và đứng một lát ở
hàng rào kẽm gai ngắm lũ hươu
phóng chạy thong dong, ngần ngừ
ăn cỏ dưới những tấm bảng ghi
dòng chữ, ĐỪNG CHO HƯƠU ĂN,
Ban Bảo Tồn Núi Nam. Dọc hàng
rào kế bên tôi là hơn chục đứa trẻ,
chúng cười rinh rích và ré lên khi
con hươu liếm món bắp rang trên
tay chúng, và rồi rầu rĩ khi tiếng la
hào hứng của chúng lại khiến chú
hươu con phóng đi về cuối cánh
đồng nơi những con hươu mẹ lông
vàng nâu đứng đường bệ ngắm
dòng xe cộ bò lên con đường núi.
Những bà mẹ trẻ trắng trẻo, khó
mà già hơn tôi, và nhiều bà còn trẻ
hơn, ngồi trong xe mui trần đậu
sau lưng tôi tán gẫu, và thỉnh
thoảng nhìn ra xem bọn trẻ ở đâu.
Trước đây tôi đã gặp họ, khi
Brenda với tôi đi ăn cái gì đó vào
buổi chiều, hoặc lái xe lên đây ăn
trưa: từng nhóm ba bốn người họ
ngồi trong những quán hamburger
thô sơ nằm rải rác trong khu bảo
tồn trong khi con cái họ ăn ngấu
nghiến hamburger và bột ngũ cốc
pha sữa, rồi bọn trẻ được cho mấy
xu lẻ để nhét vào máy chơi nhạc.
Tuy chẳng đứa nào trong bọn trẻ
đủ lớn để đọc được tựa bản nhạc,
nhưng hầu hết đều có thể gào
theo bài hát, và chúng làm vậy thật
trong khi mấy bà mẹ, có vài người
tôi nhận ra học trung học cùng
thời với tôi, trao đổi về chuyện da
rám nắng, siêu thị và những kỳ
nghỉ. Ngồi đó trông họ như bất tử.
Tóc họ sẽ giữ nguyên màu sắc họ
mong muốn, quần áo sẽ đúng loại
vải và sắc độ; trong nhà họ sẽ có
đồ Thụy Điển hiện đại khi chúng là
hợp thời trang, nếu cái kiểu barốc
to kềnh xấu xí hợp mốt trở lại thì
xin mời cái bàn cà phê chân gầy đi
ra và thay vào là đồ theo kiểu Louis
mười bốn. Họ là những nữ thần, và
nếu tôi có là Paris[2] thì cũng
không thể chọn được ai trong bọn
họ vì họ hầu như chẳng khác gì
nhau. Số phận đã đổ họ chung
thành một đống. Chỉ có Brenda tỏa
sáng. Tiền bạc và tiện nghi sẽ
không xóa được vẻ độc đáo của
nàng – không xóa, hay chưa xoá
được? Tôi tự hỏi mình đang yêu
cái gì đây, và vì tôi không phải kẻ
có thể tự thọc dao mổ vào người
mình, nên tôi đành lật lật bàn tay
bên hàng rào và để cho một con
hươu cái liếm sạch những suy nghĩ
của mình đi.
Khi tôi trở lại nhà Patimkin, Brenda
đang ở trong phòng khách trông
xinh đẹp hơn bao giờ hết. Nàng
đang mặc thử chiếc với mới cho
Harriet và mẹ nàng coi. Ngay cả bà
Patimkin cũng có vẻ dịu lại khi
ngắm nàng; làm như bà đã được
chích một loại thuốc an thần nào
đó, cả những bắp thịt cáu gắt với
Brenda quanh mắt và miệng bà
cũng dãn ra.
Brenda, không đeo kính, đã mặc
váy xong đâu vào đấy; khi nàng
nhìn tôi thì cái nhìn có vẻ mệt mỏi
và lờ đờ, và tuy những người khác
có thể lý giải đó là do thiếu ngủ,
nhưng trong thâm tâm tôi lại nghĩ
đó là sự thèm khát. Sau cùng bà
Patimkin cũng phát biểu rằng nàng
đã mua một cái váy rất đẹp còn tôi
nói trông nàng rất dễ thương và
Harriet bảo nàng rất đẹp và lẽ ra
nàng phải là cô dâu, thế là có một
khoảng im lặng khó chịu khi mọi
người thầm hỏi ai sẽ là chú rể của
nàng.
Khi bà Patimkin đã kéo Harriet vào
bếp, Brenda đến bên tôi và nói, “Lẽ
ra em phải là cô dâu.”
“Đúng thế, em cưng.” Tôi hôn
nàng, và đột nhiên nàng bật khóc.
“Chuyện gì vậy, em yêu?” tôi hỏi.
“Mình ra ngoài đi.”
Ở bãi cỏ, Brenda thôi khóc nhưng
giọng nàng nghe rất mệt mỏi.
“Neil, khi ở New York em đã gọi cho
Dưỡng đường Margaret Sanger.”
nàng nói.
Tôi không đáp.
“Neil, họ hỏi em đã có gia đình
chưa. Chúa ơi, cái bà đó ăn nói y
hệt mẹ em…”
“Rồi em nói sao?”
“Em nói chưa.”
“Rồi bà ta nói gì?”
“Em không biết. Em gác máy.”
Nàng bỏ đi và vòng quanh cây sồi.
Khi ló ra sau gốc cây, nàng đã bỏ
giày và bám một tay lên cây, cứ
như đang khiêu vũ vòng quanh cây
cột kết hoa trong lễ hội mùa xuân.
“Em có thể gọi lại mà,” tôi nói.
Nàng lắc đầu. “Không, em không
thể. Thậm chí em không hiểu tại
sao mình lại gọi họ nữa. Tụi em
đang mua sắm và tự nhiên em bỏ
đi, xem lại số điện thoại và gọi cho
họ.”
“Vậy em có thể tới gặp một bác sĩ
nào đó.”
Nàng lại lắc đầu.
“Coi kìa, Bren,” tôi nói, bước vội lại
chỗ nàng, “Mình sẽ cùng đi, tới
gặp bác sĩ. Ở New York…”
“Em không muốn tới mấy cái phòng
mạch bẩn thỉu đó…”
“Không đâu. Mình sẽ tìm một tay
phụ khoa bảnh nhất New York. Một
tay có phòng nhận bệnh to bằng
cái thương xá. Em thấy sao?”
Nàng cắn môi.
“Anh sẽ đi với em chứ?” nàng hỏi.
“Anh sẽ đi.”
“Tới phòng mạch luôn?”
“Em cưng, ông chồng không vào
phòng mạch.”
“Không à?”
“Ông ta bận đi làm.”
“Nhưng anh đâu có bận.” Nàng
nói.
“Anh đang kỳ nghỉ,” tôi nói, nhưng
tôi không trả lời vào câu hỏi.
“Bren, anh sẽ chờ và khi em làm
xong tụi mình sẽ uống mừng. Mình
sẽ đi ăn tối.”
“Neil, lẽ ra em không nên gọi
Margaret Sanger – thật sai lầm.”
“Không sai đâu, Bren. Đó là việc
đúng nhất mà mình có thể làm.”
Nàng bước đi và tôi thấy kiệt sức
với việc năn nỉ. Tôi có cảm giác lẽ
ra tôi đã thuyết phục được nàng
nếu tôi khôn khéo hơn chút đỉnh;
nhưng tôi không muốn sự khôn
lanh làm nàng đổi ý. Tôi im lặng
khi nàng trở lại, và có lẽ chính cái
đó, việc tôi chẳng nói gì cả đấy, đã
khiến nàng sau cùng thốt ra, “Em
sẽ hỏi mẹ coi mẹ muốn mình rủ
Harriet đi cùng không…”
_________________________
[1]Mary McCarthy (1912-1989) nữ
văn sĩ Mỹ, quan tâm tới nữ quyền.
[2]Paris: con trai của vua Priam ở
thành Troy. Theo truyền thuyết,
anh ta được thần Zeus cử ra để
chấm xem ba nữ thần – Hera,
Athena và Aphrodite – ai là người
đẹp nhất. Anh ta chọn Aphrodite
(thần tình yêu và sắc đẹp) vì nữ
thần này hứa cho anh ta quyến rũ
được người đàn bà đẹp nhất dưới
trần.




XtGem Forum catalog