
Chia tay thôi - Columbus - Philip
Roth - Chương 7
Kỳ: ... [7] 8 ...
Tôi sẽ chẳng bao giờ quên được
cái nóng bức và nhớp nháp của
buổi chiều đó khi chúng tôi lái xe
tới New York.
Đó là ngày thứ tư kể từ bữa nàng
ghé Margaret Sanger- nàng cứ trì
hoãn đi trì hoãn lại, nhưng sau
cùng vào hôm thứ Sáu, ba ngày
trước lễ cưới của Ron và bốn ngày
trước hôm trở lại đại học, chúng
tôi đã chạy xe qua đường hầm
Lincoln, nó có vẻ dài hơn và nhiều
khói hơn bao giờ hết, cứ như một
địa ngục lót gạch men vậy. Sau
cùng chúng tôi cũng đến New York
và lại chết ngộp vì một ngày ngột
ngạt. Tôi đảo vòng một anh cảnh
sát chỉ mặc sơ mi trần đang điều
khiển giao thông và chạy lên phía
trụ sở Cục quản lý cảng để đậu xe.
“Em có tiền trả taxi không?” tôi hỏi.
“Anh không đi với em sao?”
“Anh tính ngồi quán chờ em. Ngay
đây, tầng dưới.”
“Anh có thể đợi trong công viên
Central. Phòng mạch ông ấy ngay
bên kia đường.”
“Bren, có khác gì…” nhưng khi thấy
ánh mắt của nàng tôi đành từ bỏ
quán rượu máy lạnh để cùng nàng
đi xuyên thành phố. Trời đột nhiên
mưa ra khi taxi của chúng tôi chạy
vào trung tâm, và khi mưa tạnh,
đường phố ướt át và lấp lóa, và
bên dưới lề đường là tiếng rầm rì
của xe điện ngầm, và nói chung thì
cứ như chúng tôi đang đi vào lỗ tai
của một con sư tử.
Phòng mạch bác sĩ nằm trong cao
ốc Squibb, đối diện thương xá
Bergdorf Goodman và như thế là
một chỗ ngon lành cho Brenda sắm
thêm quần áo. Vì lý do gì đó chúng
tôi chưa từng nghĩ đến chuyện
Brenda tới một bác sĩ ở Newark, có
lẽ vì như thế là quá gần nhà và có
khả năng bị phát hiện. Khi Brenda
đến cánh cửa xoay nàng quay lại
nhìn tôi; mắt nàng long lanh, cho
dù sau lớp kính cũng thấy, và tôi
không nói một lời, e rằng một lời,
bất kỳ lời nào, cũng có thể gây hậu
quả. Tôi hôn tóc nàng và ra hiệu
rằng tôi sẽ ở chỗ vòi nước quảng
trường ngay bên kia đường, và tôi
nhìn theo nàng đi qua cánh cửa
xoay. Ở ngoài đường xe cộ di
chuyển chậm chạp cứ như cái ẩm
ướt đã biến thành một bức tường
chặn mọi thứ lại. Ngay cả cái vòi
nước hình như cũng đang phun
nước sôi lên những người ngồi
quanh đó, và trong một thoáng tôi
quyết định không băng qua đường
mà theo Đại lộ Năm xuôi về phía
nam và bắt đầu đi trên lề đường
nóng hổi đến nhà thờ St. Patrick. Ở
bậc thềm phía bắc nhà thờ một
đám đông đã tụ lại; mọi người
đang nhìn một cô người mẫu đứng
cho chụp hình. Cô nàng mặc một
chiếc váy màu vàng chanh với mũi
chân chìa ra như một vũ viên
ballet, và khi đi vào nhà thờ tôi
nghe một bà nói, “Nếu tôi ăn pho
mát trắng mỗi ngày mười lần thì
tôi không gầy gò thế này.”
Bên trong nhà thờ mát hơn nhiều,
có thể sự yên tĩnh và những ngọn
nến chập chờn khiến tôi nghĩ thế.
Tôi chọn một chỗ tuốt phía sau và
do tôi không muốn qùi xuống nên
đành chồm tới tựa vào lưng ghế
phía trước, rồi chắp hai tay và
nhắm mắt lại. Tôi tự hỏi mình
trông giống một người Thiên chúa
giáo không, và trong nỗi hoang
mang tôi bắt đầu một bài diễn văn
nho nhỏ với chính mình. Những lời
đầy ý thức ấy của tôi có thể gọi là
lời cầu nguyện không? Dù gì tôi
vẫn gọi người lắng nghe tôi là
Thượng Đế. Thưa ngài, tôi nói, con
đã hăm ba. Con muốn làm tốt mọi
chuyện. Bây giờ bác sĩ sắp gả
Brenda cho con, mà con không
hoàn toàn chắc chắn rằng đây là
điều tốt nhất. Con yêu cái gì vậy,
Chúa ơi? Tại sao con lựa chọn?
Brenda là ai? Cuộc đua đã đến mức
chóng mặt. Con có nên ngừng lại
để suy nghĩ không?
Tôi chẳng nhận được câu trả lời
nào, nhưng cứ tiếp tục. Nếu chúng
con được gặp ngài, Thượng Đế ạ, ấy
bởi vì chúng con là người phàm, và
tham lam, và do đó có phần của
ngài. Con là phàm trần, và con biết
ngài chấp thuận, con chỉ biết thế.
Nhưng làm sao con thành phàm
trần được? Con tham lam. Bây giờ
con biết trông vào đâu trong cơn
tham lam này? Chúng ta gặp nhau
ở đâu? Ngài là phần thưởng gì?
Đó là một cuộc suy ngẫm sáng
suốt, nhưng đột nhiên tôi thấy xấu
hổ. Tôi đứng dậy và đi ra ngoài, và
âm thanh ngoài Đại lộ Năm đem lại
cho tôi câu trả lời:
Mày nghĩ phần thưởng nào, thằng
ngốc? Dụng cụ ăn bằng bạc, những
cái cây dụng cụ thể thao, những
quả đào, những bãi hủy rác, những
cái mũi sạch mụn, Bồn Patimkin…
Nhưng mẹ kiếp, Thượng Đế ạ,
chính là ngài đấy!
Và Thượng Đế chỉ cười, cái thằng
hề đó.
Trên những bậc thềm quanh vòi
nước tôi ngồi trong một đường cầu
vồng nhỏ mà nắng hắt lên qua làn
nước phun. Và rồi tôi thấy Brenda
bước ra khỏi cao ốc Squibb. Nàng
chẳng cầm gì theo, cứ như một phụ
nữ chỉ đi ngắm hàng bày sau cửa
kính, và trong thoáng chốc tôi thấy
vui vì sau cùng nàng đã cưỡng lại
ước muốn của tôi.
Tuy nhiên, khi nàng băng qua
đường, cảm giác hơi bông lơn đó
qua đi và tôi lại là chính mình như
cũ.
Nàng bước tới chỗ tôi và nhìn
xuống nơi tôi đang ngồi; khi nàng
hít vào, nàng căng cả người ra, và
rồi nàng thở ra thành tiếng
“Phuù!”
“Nó đâu?” tôi hỏi.
Ban đầu, câu trả lời cho tôi chỉ là
cái nhìn đắc thắng của nàng, cái
nhìn nàng dành cho Simp vào buổi
tối nàng đánh bại cô ta, cái nhìn
tôi nhận được vào buổi sáng tôi
chạy vòng thứ ba một mình. Sau
cùng nàng nói, “Em đeo nó rồi.”
“Ồ, Bren.”
“Ông ấy hỏi để tôi gói lại hay cô
mang vô luôn?”
“Ôi Brenda, anh yêu em.”
* * *
Tối hôm đó tụi tôi ngủ với nhau, và
hai đứa bồn chồn với món đồ chơi
mới tới độ chúng tôi làm ăn cứ như
con nít ở nhà trẻ, hoặc (theo ngôn
ngữ của xứ đó) giống như một trận
đấu bóng thối tha mà chúng tôi là
hai kẻ bị đuổi khỏi sân. Và ngày
hôm sau hầu như chúng tôi không
gặp nhau, vì với đủ chuyện giờ
chót của đám cưới cứ loạn cả lên,
nào điện báo, la hét, quát tháo,
kêu khóc, chạy nháo nhào – tóm
lại, điên khùng hết. Ngay cả những
bữa ăn cũng mất đi cái vẻ ê hề
kiểu Patimkin, và chỉ rặt mấy thứ
như pho mát, hành, xúc xích, gan
bằm và cốc tai trái cây. Suốt đợt
cuối tuần đó thật nhộn nhạo, và
tôi đã cố hết sức để tránh xa trung
tâm bão, ở đó Ron, vụng về và toe
toét cười, với Harriet, thẹn thùng
và lễ phép, ngày càng quấn lấy
nhau. Đến tối Chủ nhật sự mệt mỏi
đã tới mức khủng hoảng và cả nhà
Patimkin, trong đó có Brenda, đã đi
ngủ sớm. Khi Ron vào phòng tắm
đánh răng tôi quyết định cũng đi
đánh răng luôn. Khi tôi đứng trước
bồn rửa thì anh ta sờ thử khố lót
xem còn ướt cỡ nào rồi vắt nó lên
nút vòi sen và hỏi tôi có thích
nghe mấy đĩa nhạc của anh ta một
lát không. Tôi nhận lời chẳng phải
vì cô đơn hay chán đời, mà vì thấp
thoáng bắt gặp lại tình bạn thời
còn đi học giữa những thứ xà bông
nước nôi gạch men này, và tôi nghĩ
có lẽ lời rủ rê của Ron xuất phát từ
mong ước được sống những phút
sau cùng của đời độc thân với một
tay độc thân khác. Nếu tôi đoán
đúng thì đó là khẳng định thực sự
đầu tiên của anh ta dành cho chất
đàn ông của tôi. Sao tôi từ chối
được?
Tôi ngồi trên cái giường đôi bỏ
không.
“Muốn nghe Mantovani không?
“Muốn chứ,” tôi nói.
“Anh thích ai hơn, tay này hay
Kostelanetz?”
“Tay nào cũng được.”
Ron đi lại cái tủ. “Nè, còn đĩa
Columbus thì sao? Có bao giờ
Brenda cho anh nghe không?”
“Chưa. Chắc vậy.”
Anh ta rút đĩa trong vỏ bọc ra, và
giống một gã khổng lồ với một cái
vỏ sò, anh ta cẩn thận đặt nó vào
máy quay đĩa. Rồi anh ta mỉm cười
với tôi và nằm ngửa ra trên giường.
Hai tay anh ta xếp sau gáy và mắt
dán lên trần, “Đứa nào ra trường
cũng được một đĩa, cùng với cuốn
kỷ yếu…” nhưng anh ta im lặng
ngay khi nghe âm thanh trỗi lên.
Tôi nhìn Ron và lắng nghe.
Ban đầu chỉ có một loạt tiếng
trống, rồi im lặng, rồi trống dồn
tiếp… và rồi nhẹ nhàng, một bản
hành khúc, tiết tấu nghe rất quen
thuộc. Khi bản nhạc kết thúc, tôi
nghe những tiếng chuông, nhẹ
vang vang, rồi dịu nhẹ lại. Và sau
cùng là một giọng nói, trầm và xa
xôi, kiểu giọng thường nghe thấy
trong những phim tài liệu về sự
bành trướng của chủ nghĩa phát
xít.
“Năm là năm 1965. Mùa là mùa
thu. Địa điểm là Đại học bang
Ohio…”
Tổng tấn công! Ngày phán xét cuối
cùng! Thượng Đế đã giáng gậy
xuống, và Đội hợp xướng bang Ohio
đang vây lấy khuôn viên đại học cứ
như linh hồn của họ tùy thuộc vào
đó. Sau một đoạn đồng ca dữ dội,
nó rơi xuống, tuy vẫn còn gào thét,
vào cõi hôn mê vô tận, và giọng nói
lại vang lên.
“Lá đã bắt đầu úa màu và đỏ cạch
lên trên cây. Những đống lửa um
khói sáng lên dọc Dãy nhà Hội sinh
viên, khi những chuẩn hội viên
quét gom những chiếc lá và tung
chúng vào màn sương mờ. Những
khuôn mặt cũ đón chào những
khuôn mặt mới, những khuôn mặt
mới gặp gỡ những khuôn mặt cũ, và
một năm học mới đã bắt đầu…”
Aâm nhạc. Dàn hợp xướng trở lại
huy hoàng. Rồi vẫn giọng nói ấy:
“Địa điểm, hai bờ sông Olentangy.
Sự kiện, trận đấu cựu sinh viên,
1956. Đối thủ, bọn Illini cực kỳ
nguy hiểm…”
Tiếng gào la của đám đông. Giọng
nói khác – của Bill Stern: Illini
nhận banh. Giao banh. Linday lui
ra sau để chuyền banh, anh ta
phát hiện đồng đội không bị kèm,
anh ném bóng dài dọc theo sân –
và NÓ BỊ ĐÓN CHẶN BỞI SỐ 43,
HERB CLARK CỦA BANG OHIO! Clark
thoát qua một hậu vệ truy cản,
thoát qua một đối thủ nữa khi đến
được giữa sân. Bây giờ anh đang
đảo qua một hậu vệ, anh chạy
xuống tới vạch 45, rồi 40, và 35…”
Và khi Bill Stern ép vào Clark, và
Clark, Bill Stern, Ron, nằm trên
giường, với thân thể cựa quậy chút
đỉnh, đẩy Herb Clark qua vạch
khung thành.
“Và bây giờ Ohio dẫn trước 21- 19.
Trận đấu quá hay!”
Giọng nam trung của lịch sử lại
xen vào: “Nhưng mùa giải hết
thăng lại trầm, và đến lúc những
bụi tuyết đầu tiên phủ trên mặt cỏ,
thì âm thanh nhồi banh lách chách
và tiếng gào Tiến lên, nhào vô! Lại
vang vang khắp nhà thi đấu có mái
che…”
Ron nhắm mắt lại.
“Trận Minnesota,” một giọng nam
cao khác thông báo, “và đối với một
số sinh viên năm cuối của chúng ta
thì đây là trận cuối cùng của họ
trong màu áo đỏ trắng… Các đấu
thủ đã sẵn sàng ra sàn đấu trước
sự chờ đợi của khán giả. Sẽ có
tiếng vỗ tay vang dội từ đám đông
sôi nổi này vì một số đấu thủ sẽ
không còn xuất hiện trong năm tới
nữa. Đây, Larry Gardner số 7, đã
bước ra sân đấu, Big Larry từ
Akron, Ohio…”
“Larry…” tiếng loa phóng thanh
thông báo; “Larry,” đám đông gào
đáp lại.
“Và đây là Ron Patimkin thong thả
chạy ra. Ron, số 11, từ Short Hills,
New Jersey. Trận đấu cuối cùng của
Big Ron, và phải rất lâu thì các fan
hâm mộ của đội Buckeyes mới
quên được anh…”
Big Ron cứng người trên giường khi
loa phóng thanh gọi tên anh ta;
tiếng hoan hô của anh ta hẳn đã
khiến những mành lưới rung lên.
Rồi tên các đấu thủ khác cũng
được xướng lên, rồi mùa bóng chày
cũng qua đi, và đến Tuần tôn giáo,
Dạ hội sinh viên năm cuối (Billy
May gào vang mái nhà thi đấu thể
dục), Đêm liên hoan của Hội sinh
viên, thi sĩ E.E. Cummings đọc cho
sinh viên nghe (thơ, im lặng, hoan
hô); và rồi, sau cùng, là lễ phát
bằng tốt nghiệp:
“Khuôn viên đại học lặng đi trong
ngày đặïc biệt này của tất cả mọi
ngày. Với mấy ngàn thanh niên
thiếu nữ đây là một ngày rất vui
mà cũng rất nghiêm trang. Với cha
mẹ của họ đó là một ngày của
tiếng cười và cũng là ngày của
nước mắt. Đó là một ngày xanh
ngát, ngày bảy tháng sáu năm một
ngàn chín trăm năm mươi bảy và
với những người Mỹ trẻ tuổi này
đây là ngày xao xuyến nhất trong
đời của họ. Với rất nhiều sinh viên,
đây sẽ là lần cuối trong nhiều, rất
nhiều năm sắp tới, họ còn được
ngắm nhìn khuôn viên đại học này,
ngắm nhìn Columbus. Cuộc đời vẫy
gọi chúng ta, và chúng ta bước vào
thế giới này một cách náo nức nếu
không muốn nói là bồn chồn và rời
xa những niềm vui giữa các bức
tường leo đầy dây thường xuân
này. Nhưng không rời xa ký ức về
nó. Nó sẽ là đồng hành, nếu không
muốn nói là nền tảng, cho cuộc đời
chúng ta. Chúng ta sẽ chọn chồng
chọn vợ, chúng ta sẽ chọn nghề
nghiệp và mái ấm, chúng ta sẽ có
con có cháu, nhưng chúng ta sẽ
không quên ngươi, bang Ohio.
Trong bao năm sắp tới chúng ta sẽ
luôn mang theo những kỷ niệm về
ngươi, bang Ohio ơi…”
Chậm rãi, dịu dàng, dàn đồng ca
Đại học bang Ohio cất lên bài
hành khúc của trường rồi chuông
vang báo giờ khắc cuối cùng ấy.
Dịu, rất dịu, vì đó là mùa xuân.
Đôi tay nổi rõ gân máu của Ron
mọc gai ốc khi giọng nói tiếp tục.
“Chúng tôi hiến thân mình cho
ngươi, rồi cho cả thế giới, và tìm về
ngươi để tìm lẽ sống. Và với ngươi,
bang Ohio, với ngươi Columbus,
chúng tôi xin nói lời cảm ơn, cảm
ơn và tạm biệt. Chúng tôi sẽ rất
nhớ ngươi, vào mùa thu, mùa đông,
mùa xuân, nhưng một ngày nào đó
chúng tôi sẽ trở lại. Còn từ giờ cho
đến ngày đó, xin tạm biệt, bang
Ohio, chia tay thôi, màu trắng đỏ,
chia tay thôi, Columbus… Chia tay
thôi, Columbus… chia tay thôi…”
Cặp mắt Ron nhắm lại. Ban nhạc
tuôn ra đoạn nhạc hoài niệm cuối
cùng, và tôi rón rén ra khỏi phòng,
cùng nhịp chân bước với 2163 sinh
viên của khóa 1957 ấy.
Tôi đóng cửa phòng lại, nhưng rồi
lại mở ra và nhìn qua phòng Ron:
anh ta vẫn còn âm ư trên giường.
Ôi trời! Tôi thầm nghĩ, ông anh vợ
của tôi!
* * *
Đám cưới.
Cho tôi bắt đầu với đám họ hàng.
Có gia đình bên bà Patimkin: gồm
bà em là Molly, một mụ béo tốt vú
to đùng có cổ chân phì đại phủ
xuống đôi giày, và là kẻ sẽ nhớ mãi
đám cưới của Ron chẳng vì lý do
nào khác ngoài chuyện bà ta phải
hy sinh bàn chân mình trong đôi
giày gót cao cả tấc, rồi có ông
chồng mập lù của bà Molly là Harry
Grossbart, một kẻ đã làm giàu nhờ
lúa mạch với bắp ngô để nấu rượu
trong thời kỳ cấm rượu.[1] Bây giờ
ông ta hoạt động tích cực trong
Đền thờ và lúc nào gặp Brenda ông
ta cũng vỗ vào mông nàng; tôi
đoán đó là một cung cách của dân
buôn rượu lậu đã được coi là cách
bày tỏ tình cảm gia đình. Lại còn
có Marty Kreiger, ông anh của bà
Patimkin nữa. Đó là ông vua ngành
sản xuất thức ăn nhanh Kosher,[2]
một ông to tướng có mấy lớp cằm
thì cũng có bấy nhiêu lớp bụng, và
lúc này, ở tuổi năm mươi lăm, ông
ta đã có số lần tai biến tim mạch
bằng số lớp cằm và lớp bụng cộng
lại. Ông ta vừa mới đi nghỉ dưỡng
ở Catskills về, ông ta nói ở đó ông
chẳng ăn gì khác ngoài món All-
Bran và chơi bài gin rummy thắng
được 1.500 đô. Khi anh thợ chụp
ảnh tới hành nghề, Marty đặt tay
lên bộ ngực xẹp lép của bà vợ và
nói, “Ê, chụp vầy coi đã chưa!”
Sylvia, bà vợ, là một phụ nữ ốm yếu
còm nhom với khung xương mảnh
mai như xương chim. Bà ta khóc
suốt lễ cưới, và thực tình đã nức nở
tồ tồ khi giáo sĩ tuyên bố Ron và
Harriet là “vợ chồng trước mặt
Thượng Đế và Bang New Jersey.”
Sau đó, trong bữa tiệc, bà ta đã
cứng cỏi trở lại đủ để đập vào tay
chồng khi ông này tính nhón lấy
một điếu xì gà. Tuy nhiên, khi ông
ta quàng vai để đặt tay lên ngực
bà, bà chỉ trông hơi hoảng hốt thôi
và chẳng phản đối gì cả.
Kế đến là hai bà chị sinh đôi của
ông Patimkin, Rose và Pearl, cả hai
có tóc bạch kim, y như màu chiếc
Lincoln mui trần, và có giọng mũi,
họ có hai ông chồng đi theo nhưng
chỉ nói chuyện với nhau, cứ như bà
chị lấy cô em còn hai ông chồng
kia lấy nhau. Hai ông này tên là
Earl Klein và Manny Kartzman, ngồi
cạnh nhau lúc làm phép cưới, rồi ở
bàn tiệc, có một lần, khi ban nhạc
chơi trong khi chờ dọn món kế tiếp,
họ đã đứng dậy, cả Klein và
Kartman, cứ như để khiêu vũ,
nhưng họ lại đi về cuối đại sảnh
rồi cùng nhau đếm bước theo
chiều rộng của đại sảnh. Sau này
tôi mới biết Earl buôn bán thảm, và
rõ ràng ông ta đang cố tính ra
mình sẽ kiếm được bao nhiêu nếu
Khách sạn Prince làm phước mua
thảm của ông ta.
Về phía họ nhà ông Patimkin thì
chỉ có mỗi Leopold, anh em ghẻ
của ông. Leopold cưới một bà tên
là Bea, người mà coi bộ chẳng có ai
nói chuyện. Bà Bea cứ chạy tới
chạy lui trong bữa tiệc và ghé lại
bàn của lũ trẻ để xem Sharon, con
gái bà ta, có được chăm sóc tử tế
không. “Tôi đã bảo bà ấy đừng dẫn
con theo. Mướn một cô giữ trẻ đi,
tôi bảo vậy.” Leopold kể lể với tôi
trong khi Brenda khiêu vũ với anh
phù rể Ferrari. “Bà ấy nói ông nghĩ
mình là ai, triệu phú chắc? Không,
lạy Chúa, nhưng ông anh tôi lấy vợ
cho con, tôi có thể ăn mừng chút
đỉnh chứ. Không, mình sẽ mang
đứa bé theo. Aah, để có chuyện
cho bà ấy làm!…” Ông ta nhìn
quanh đại sảnh. Trên sân khấu
Harry Winters (tên thật là
Weinberg) đang chỉ huy ban nhạc
chơi một liên khúc từ các bài trong
phim My Fair Lady; dưới sàn nhảy,
đủ lứa tuổi, kích cỡ, kiểu dáng,
đang khiêu vũ. Ông Patimkin nhảy
với Julie, váy của con bé đã tuột
khỏi vai làm lộ ra khoảng lưng nhỏ
mềm mại, và cái cổ dài, giống như
cổ Brenda. Ông ta nhảy trong
những ô nhỏ và rất cố gắng để
đừng dẫm vào ngón chân Julie.
Harriet, như mọi người nói, là một
cô dâu xinh đẹp, đang khiêu vũ với
cha ruột. Ron nhảy với mẹ vợ,
Brenda với Ferrari, và tôi đã ngồi
một hồi lâu trên một ghế trống
cạnh Leopold để tránh bị lôi vào
chuyện khiêu vũ với bà Patimkin
vốn là đích nhắm của mọi vật thể
chuyển động.
“Anh là bạn của Brenda, hử?”
Leopold hỏi.
Tôi gật đầu – từ đầu hôm tôi đã
thôi cái trò đưa ra những giải thích
sặc mùi bẽn lẽn. “Ngon ăn đó, cậu
trai,” Leopold nói, “đừng làm hỏng
chuyện.”
“Cô ấy rất đẹp,” tôi nói.
Leopold tự rót một ly sâm banh, và
chờ đợi cứ như ông ta mong có một
cái đầu sẽ mọc lên ở đó; khi chẳng
có cái nào mọc ra, ông rót tràn tới
miệng ly.
“Đẹp, không đẹp, có khác gì đâu.
Tôi là người thực tế. Tôi đang ở
tuốt dưới đáy, nên tôi phải vậy.
Nếu anh là Aly Khan thì anh mới lo
nghĩ chuyện cưới ngôi sao màn
bạc. Tôi rành chuyện đó quá mà…
Anh biết hồi lấy vợ tôi bao nhiêu
tuổi không? Ba mươi lăm. Tôi
không hiểu mình lúc đó đang vội
vã cái quái qủi gì.” Ông ta cạn ly
và lại rót đầy. “Để tôi kể anh nghe,
một chuyện tốt đẹp xảy đến với tôi
trong cả một đời. Có thể là hai
điều. Trước khi từ nước ngoài trở
về tôi nhận được thư của vợ – lúc
đó cô ấy chưa là vợ tôi đâu. Mẹ vợ
tôi kiếm được một căn hộ ở Queens
cho tụi tôi. Sáu mươi hai đô rưỡi
một tháng. Đó là chuyện tốt đẹp
sau cùng từng đến với tôi.”
“Còn chuyện thứ nhất?”
“Thứ nhất nào?”
“Thì ông nói có hai chuyện.”
“Tôi không nhớ. Tôi nói có hai bởi
vì vợ tôi cứ nói tôi là đứa chua cay
và hoài nghi. Kiểu như vậy có lẽ bà
ấy không hề nghĩ tôi khôn ngoan cỡ
nào.”
Tôi thấy Brenda và Ferrari tách ra,
nên cáo lỗi và cất bước về phía
nàng, nhưng ngay lúc đó ông
Patimkin rời Julie và trông cứ như
hai tay đó sắp đổi bạn nhảy cho
nhau. Nhưng té ra cả bốn cứ đứng
trên sàn nhảy và khi tôi đến gần
thì họ đang cười và Julie thốt lên,
“Mắc cười thiệt!” Ferrari nói “Chào”
với tôi và kéo Julie đi, làm con bé
này bật lên cười khanh khách.
Ông Patimkin đặt một tay lên lưng
Brenda và đột nhiên tay kia đặt
lên lưng tôi. “Hai đứa vui chơi
thoải mái không?” ông hỏi.
Chúng tôi hơi đong đưa thân hình,
cả ba người, theo bài hát “Get Me
to the Church on Time.”
Brenda hôn bố nàng. “Dạ,” nàng
nói. “Con say đến độ cái đầu không
cần đến cổ nữa.”
“Đám cưới quá tuyệt, bác Patimkin
ạ.”
“Có cần gì cứ nói với tôi…” ông bảo,
chính ông cũng ngà ngà. “Hai đứa
tốt lắm… Con thấy thích chuyện
anh mình lập gia đình không?…
Hử?… Kia là con gái hay đây là con
gái?”
Brenda mỉm cười, và tuy rõ ràng
nàng nghĩ bố nói về mình, nhưng
tôi tin chắc ông đang nói tới
Harriet.
“Bố thích đám cưới không, bố?”
Brenda hỏi.
“Bố thích đám cưới của con bố…”
Ông ta vỗ vào lưng tôi. “Hai đứa, có
cần gì không? Cứ vui chơi thoải
mái nhé. Nhớ nghe,” ông nói với
Brenda, “Con là con gái cưng của
bố…” Rồi ông ta nhìn qua tôi. “Bất
cứ gì con gái tôi muốn thì cũng tốt
đẹp cho tôi hết. Không có chuyện
làm ăn nào quá lớn đến độ không
thể xài thêm một cái đầu nữa.”
Tôi mỉm cười, tuy không hẳn là cười
với ông ta, và đàng xa tôi còn thấy
được Leopold đang cạn ly sâm
banh và nhìn ba người chúng tôi;
khi gặp ánh mắt tôi ông ta đưa tay
ra dấu với ngón cái và ngón trỏ làm
thành một vòng tròn, ngụ ý, “Nó
đó, nó đó!”
Sau khi ông Patimkin bỏ đi, tôi với
Brenda ôm nhau khiêu vũ, và
chúng tôi chỉ ngồi xuống khi các
anh bồi bàn bắt đầu đi vòng vòng
mời món chính. Bàn tiệc chính rất
ồn, nhất là ở đầu bàn phía chúng
tôi nơi bọn thanh niên hầu hết là
đồng đội của Ron, ở môn thể thao
này hoặc môn nọ; bọn họ ăn cả
đống bánh kếp cuộn. Tank
Feldman, bạn cùng phòng của Ron,
từ Teledo bay về dự đám cưới, cứ
bắt anh bồi đi lấy thêm bánh
cuộn, cải, ô liu, và lúc nào cũng
làm hài lòng Gloria Feldman, vợ
hắn ta, một con mụ thiếu dinh
dưỡng, nhộn nhạo, lúc nào cũng
nhìn xuống ngực cứ như bên dưới
lớp áo ấy đang tiến hành một công
trình xây dựng nào đó. Gloria và
Tank, thực ra, có vẻ là chỉ huy tự
phong ở đầu bàn này. Họ hô hào
uống mừng, ồ ồ lên hát, và cứ liên
tục gọi tôi với Brenda là “đôi uyên
ương.” Brenda nhe nanh cười trước
kiểu nói đùa này và tôi moi được
một vẻ mặt hào hứng từ cái tâm
nhĩ lừa đảo nào đó của con tim
tôi.
Và đêm cứ tiếp tục: chúng tôi ăn,
chúng tôi uống, chúng tôi nhảy –
Rose và Pearl nhảy điệu Charleston
với nhau (trong khi hai ông chồng
của họ đi nghiên cứu đồ gỗ và các
chùm đèn), và rồi đến tôi nhảy
Charleston với chẳng ai khác hơn
mụ Gloria Feldman, mụ này trong
lúc nhảy cứ bày ra với tôi một bộ
mặt thẹn thùng bẽn lẽn thấy phát
ớn. Lúc gần tàn cuộc, Brenda, nãy
giờ đã uống sâm banh y như ông
chú Leopold, biểu diễn sô lô một
màn tango theo kiểu Rita Hayworth,
còn Julie đã ngủ gục trên một mớ
dương sỉ nó gom từ bàn tiệc chính
và rải thành một lớp nệm ở cuối
đại sảnh. Tôi thấy một cảm giác tê
cứng lan tới vòm miệng, và đến ba
giờ sáng thì người ta mặc cả áo
khoác để khiêu vũ, những qúi bà
chân không giày đang gói những
miếng bánh cưới vào khăn ăn để
dành làm bữa trưa mai cho lũ trẻ,
và sau cùng Gloria Feldman đi lại
cuối bàn chỗ chúng tôi và hỏi, một
cách tươi tỉnh, “Nào, cô sinh viên
Radcliffe thông minh của tôi, suốt
mùa hè cô làm gì nè?”
“Nuôi một con ‘cu’.”
Gloria mỉm cười và biến đi mau lẹ
như khi xuất hiện vậy, còn Brenda
không nói thêm một lời khật
khưỡng đi về phía phòng vệ sinh
nữ để nhận phần thưởng cho việc
quá chén. Nàng vừa đi khỏi là
Leopold đến bên tôi liền, một tay
cầm ly, tay kia là một chai sâm
banh mới nguyên.
“Không thấy cô dâu chú rể đâu hết
hả?” ông ta nói, nháy nháy mắt.
Đến lúc này ông ta hết phát âm
nổi những phụ âm và đang cố hết
sức với những nguyên âm dài, ướt
nhẹp. “Được rồi, kế tiếp là anh,
nhóc ạ, tôi thấy điều đó qua những
quân bài… Anh đâu phải thứ dễ
qua mặt…” và ông ta thúc cổ chai
vào hông tôi, làm đổ cả sâm banh
ra chiếc áo vest đi thuê của tôi.
Ông ta đứng thẳng dậy, rót thêm
một mớ nữa ra ly và bàn tay,
nhưng đột nhiên ông ta ngưng lại.
Ông ta nhìn chằm chằm vào những
bóng đèn được giấu bên dưới một
tràng hoa dài trang trí phía trước
bàn. Ông ta lắc lắc cái chai như để
làm nó sủi bọt lên. “Cái thằng chó
đẻ chế ra đèn huỳnh quang chết
tươi đi cho rồi!” Ông ta đặt chai
xuống và uống.
Trên sân khấu Harry Winters cho
nhạc công nghỉ. Tay đánh trống
đứng dậy, vươn vai, và cả bọn bắt
đầu mở hộp cất nhạc cụ đi. Dưới
sàn nhảy, bà con, bạn bè, đồng sự,
bá vai quàng hông nhau, và những
đứa bé đeo vào chân bố mẹ chúng.
Có vài đứa chạy ra chạy vào, gào la
chơi rượt bắt, cho đến khi một đứa
bị người lớn nắm lại và đét mấy
phát ra trò vào đít. Nó bật khóc,
rồi từng cặp rời sàn nhảy. Cái bàn
của chúng tôi là một đống hỗn độn
đủ thứ: khăn ăn, trái cây, hoa; có
cả những chai whisky đã cạn,
những cành lá héo rũ, và mấy cái
dĩa lầy nhầy món kem dâu ăn bỏ
dở, đã trở nên nhơn nhớt. Ở cuối
bàn ông Patimkin ngồi cạnh vợ,
cầm tay bà ta. Đối diện họ, trên
hai ghế kéo lại cạnh nhau, là ông
bà Ehrlich. Họ nói chuyện lặng lẽ
và đều đều, cứ như họ đã biết
nhau qua vô số năm. Lúc này mọi
sự đã chậm lại, và thỉnh thoảng lại
có người đến bên ông bà Patimkin
và Ehrlich để chúc mừng họ, rồi
kéo bầy cả gia đình bước ra ngoài
bầu trời đêm tháng Chín, có ai đó
nhận xét trời mát và nhiều gió,
khiến tôi nhớ ra chẳng bao lâu nữa
là tới mùa đông và tuyết giá.
“Nó chẳng bao giờ hư, mấy thứ đó,
anh biết mà,” Leopold trỏ những
đèn huỳnh quang sáng sau đám
hoa lá. “Nó xài được tới mấy năm.
Tụi nó làm được cả một chiếc xe
hơi như thế nếu muốn, thứ không
bao giờ hư. Nó cứ cháy bất chấp
mưa mùa hè hay tuyết mùa đông.
Nhưng tụi nó không làm thế, mấy
cha trùm đó là vậy… Còn tôi nè,”
Leopold nói, làm văng sâm banh ra
ngực áo, “Tôi bán một bóng đèn
tốt. Anh không kiếm ra loại bóng
đèn tôi bán trong một tiệm tạp
phẩm đâu. Đó là bóng đèn chất
lượng. Nhưng tôi là thứ tép riu.
Chẳng có được một cái xe nữa. Đi
đâu cũng bằng xe lửa. Tôi là thằng
duy nhất mỗi mùa đông đi mòn ba
đôi ủng cao su. Hầu hết người ta
mua cái mới khi mất cái cũ. Còn tôi
thì đi tới mòn luôn. Coi đó,” ông ta
nói, chồm về phía tôi, “Tôi có thể
bán thứ bóng đèn dổm, đâu hại gì
cho tôi. Nhưng làm ăn như thế
không bền.”
Vợ chồng nhà Ehrlichs và Patimkin
cùng đẩy ghế ra và bỏ đi, ngoại trừ
ông Patimkin bước về phía tôi với
Leopold.
Ông ta vỗ vào lưng Leopold. “Sao,
khoẻ không, bợm?”
“Khỏe thôi, Ben. Khoẻ thôi…”
“Đã đời chưa?”
“Anh được một chuyện vui đấy,
Ben, chắc cũng tốn bộn tiền, tôi
nói thiệt…”
Ông Patimkin bật cười. “Mỗi khi
khai thuế lợi tức là tôi đi kiếm
Leopold. Nó biết rõ tôi xài bao
nhiêu tiền… Muốn quá giang về
không?” ông ta hỏi tôi.
“Không, cám ơn bác. Cháu chờ
Brenda. Cháu có xe mà.”
“Chúc ngủ ngon,” ông Patimkin nói.
Tôi nhìn theo ông ta bước khỏi bục
kê bàn tiệc chính, và đi về phía lối
ra. Bây giờ trong sảnh – một gian
sảnh tan hoang – chỉ còn tôi,
Leopold, bà vợ ông ta cùng đứa nhỏ
đang ngủ, cả hai, gối đầu lên tấm
khăn bàn cuộn tròn lại ở một cái
bàn trước mặt chúng tôi. Brenda
vẫn chẳng thấy đâu.
“Khi anh giành được nó,” Leopold
nói, chà những ngón tay vào nhau,
“anh có thể ăn nói như một tay tai
to mặt lớn. Ai còn cần đến thằng
như tôi nữa. Dân chào hàng, anh
cứ nhổ vào bọn họ. Anh cứ tới siêu
thị là mua được đủ thứ. Ở chỗ bà
xã tôi đi mua sắm anh còn mua
được cả vải trải giường với áo gối
nữa. Tưởng tượng đi, chỉ là một
cửa hàng tạp phẩm! Còn tôi, tôi
bán hàng cho trạm xăng, nhà máy,
doanh nghiệp nhỏ, lên xuống khắp
bờ biển phía đông. Đương nhiên,
anh có thể bán cho một thằng cha
nọ ở trạm xăng một bóng đèn vớ
vẩn xài một tuần là bứt. Vì trong
các trụ bơm xăng mà tôi đang nói
đó, nó cần một loại bóng đèn nào
đó. Một bóng đèn thông dụng.
Được thôi, nên anh bán cho y một
bóng đèn dổm, và một tuần sau y
gắn cái mới, và trong khi gắn y vẫn
nhớ tên anh. Tôi thì không như
thế. Tôi bán một bóng đèn chất
lượng. Nó cháy được một tháng,
năm tuần, thì mới bắt đầu bị nhấp
nháy, rồi nó còn sáng cho anh
thêm vài ba ngày nữa, có thể hơi
mờ, nhưng cũng đỡ cho anh khỏi
phải lần mò. Nó cầm cự được, đó là
thứ bóng đèn chất lượng. Trước khi
nó đứt bóng anh sẽ nhận thấy nó
yếu dần, nên anh kịp mua cái mới.
Cái mà người ta không ưa là mới
sáng trưng đó lát sau đã tối hù.
Phải cho nó tờ mờ vài ngày và họ
đỡ cảm thấy khó chịu. Chưa có ai
vất bóng đèn của tôi đi… họ cứ
nghĩ có thể để dành được, có thể
lúc kẹt lấy ra xài đỡ. Có khi tôi hỏi
một thằng cha, ông có bao giờ vất
đi một bóng đèn mua của Leopold
Patimkin chưa? Mình phải xài tâm
lý. Bởi thế nên tôi mới cho con học
đại học. Thời buổi này mà không
biết chút đỉnh tâm lý là tiêu…”
Ông ta giơ một tay lên chỉ về bà vợ
rồi ông ta ngồi thụp xuống ghế.
“Aaach!” ông ta kêu rồi làm một hơi
hết nửa ly sâm banh. “Để tôi nói
cho anh nghe, tôi đi đến tận New
London, Connecticut. Tôi sẽ đi xa
cỡ đó, và khi đêm xuống trở về nhà
đầu tiên là tôi ghé lại làm vài ly.
Rượu Martini đấy. Tôi làm hai ly,
có khi ba. Vậy là vừa, phải không?
Nhưng với bà ấy thì một hớp hay
cả một bồn tắm thì cũng bốc mùi
như nhau. Bà ấy bảo nếu tôi về
nhà sặc sụa hơi men thì không tốt
cho con cái. Nó còn nhỏ xíu, lạy
Chúa tôi, bà ấy nghĩ tôi là phải có
mùi như vậy. Một thằng bốn mươi
tám tuổi với một đứa nhỏ ba tuổi!
Với con bé ấy bà ta làm tôi bị
nghẽn mạch máu mất. Mụ vợ tôi,
bà ấy muốn tôi về nhà sớm và chơi
với con trước khi nó đi ngủ. Bà ấy
bảo cứ về nhà rồi tôi làm cho ông
một ly. Hàa! Tôi phải cả ngày hít
hơi xăng, lom khom dưới mui xe ở
New London, cố mà gắn một bóng
đèn phải gió vào ổ gắn… Tôi sẽ tự
tay vặn nó vào, tôi bảo họ vậy… vậy
mà bà ấy nghĩ tôi muốn về nhà và
uống một miếng martini bằng cái
ly nhựa vớ vẩn gì đó hả! Bà ấy nói
ông định ngồi trong quán rượu bao
lâu. Cho đến khi một cô Do Thái
thành Hoa Hậu Rhinegold chắc!”
“Vậy đó,” ông ta nói tiếp sau khi
cạn một ly nữa, “Tôi yêu con mình
giống như Ben yêu Brenda của hắn
vậy. Không phải là tôi không muốn
chơi với nó. Nhưng nếu tôi chơi với
con và tối lên giường ngủ với vợ,
thế thì bà ta đừng mong có được
điều bất ngờ gì ở tôi. Được cái này
thì mất cái kia. Tôi đâu phải ngôi
sao điện ảnh.”
Leopold nhìn cái ly đã cạn của
mình và đặt nó lên bàn; ông ta dốc
ngược chai và uống sâm banh cứ
như nước sôđa. “Anh nghĩ mỗi
tuần tôi kiếm được bao nhiêu?” ông
ta hỏi.
“Tôi không biết.”
“Đoán thử coi.”
“Một trăm đô.”
“Chắc cú, và ngày mai người ta sẽ
thả sư tử khỏi mấy cái chuồng ở
Công viên Central. Anh nghĩ tôi
kiếm được bao nhiêu?”
“Không đoán được.”
“Một thằng tài xế taxi còn kiếm
được nhiều hơn tôi. Thực vậy đó.
Thằng em vợ tôi là tài xế taxi, nó
sống ở Kew Gardens. Và hắn không
kiếm ăn vớ vẩn đâu, không thưa
ngài, không phải đám tài xế taxi đó
đâu. Tuần rồi có một tối trời mưa
và tôi bảo mẹ kiếp nó, mình sẽ vẫy
một cái taxi. Tôi đã ở suốt ngày tại
Newton, Massachusetts. Tôi thường
không đi xa thế, nhưng buổi sáng
ngồi trên xe lửa tôi tự nhủ, cố lên,
hãy đi xa hơn, nó sẽ có một thay
đổi. Và lúc đó tôi vẫn biết mình
đang tự đùa cợt mình. Tôi thậm
chí sẽ không kiếm được gì bù cho
khoản lộ phí tăng thêm này.
Nhưng tôi cứ kiên trì. Và đến tối
tôi còn ế tới mấy hộp, nên khi
thằng cha đó đậu xe trước Grand
Central, có gì giống như thần thánh
trong tôi bảo tôi hãy lên xe. Tôi
thậm chí liệng đại thùng bóng đèn
vào xe, chẳng cần biết chúng có vỡ
hay không. Và cha tài xế nói, Tính
làm gì vậy cha nội, làm rách mặt da
hả? Tôi mới bọc lại nệm ghế đó.
Đâu có, tôi nói. Chúa ơi, y nói, một
số tay thổ tả. Tôi chui vào và cho
hắn một địa chỉ ở Queens để y câm
miệng đi, nhưng không, suốt dọc
đường y cứ Chúa ơi với tôi mãi.
Trong xe thì nóng, nên tôi mở một
cửa sổ và thế là y quay lại nói,
Tính làm gì đó cha nội, cho tôi
lạnh gáy hả? Tôi vừa hết một đợt
cảm cúm mặc dịch xong…” Leopold
nhìn tôi, cặp mắt lờ đờ. “Thành
phố này điên hết rồi! Nếu có chút
tiền là tôi biến khỏi đây liền. Tôi
sẽ đi California. Ở đó trời đất sáng
sủa người ta không cần bóng đèn.
Tôi đã từ San Francisco đi New
Guinea hồi thế chiến. Chà chà,”
ông ta thốt lên, “có một chuyện tốt
đẹp nữa xảy đến với tôi, đêm đó ở
San Francisco với Hannah
Schreiber. Tức là cả hai vợ chồng
nó, anh hỏi thì tôi sẽ nói – căn hộ
mà mẹ vợ kiếm cho tụi tôi, và
Hannah Schreiber này. Chỉ một
đêm thôi. Tôi dự một buổi khiêu vũ
B’nai Brith cho lính dưới tầng hầm
một đền thờ lớn nọ, và tôi gặp cô
ấy. Lúc đó tôi chưa lập gia đình,
nên đừng có nhíu mày như vậy.”
“Tôi thì không đâu.”
“Cô ấy có một căn phòng nho nhỏ
xinh xinh. Cô ấy sẽ đi học làm cô
giáo. Tôi biết có điều gì đó đang
xảy ra vì lúc ở trong taxi cô ấy cho
tôi sờ bên trong quần lót. Nghe tôi
này, tôi ăn nói cứ như lúc nào
cũng đi taxi. Có lẽ trong đời tôi chỉ
được hai lần khác nữa thôi. Nói
thật tôi cũng không khoái gì
chuyện đó. Lúc nào ngồi xe tôi
cũng nhìn đồng hồ tính tiền. Ngay
cả những lạc thú tôi cũng không
hưởng được!”
“Còn Hannah Schreiber thì sao?”
Ông ta mỉm cười, lộ răng vàng lấp
lánh. “Anh thấy thích cái tên đó
không? Cô ấy chỉ là một thiếu nữ,
nhưng lại có cái tên của một qúi
bà. Trong phòng cô ấy nói với tôi là
cô tin ở chuyện yêu nhau bằng
mồm. Tôi chả hiểu cô ấy muốn nói
cái quái qủi gì. Tôi mường tượng
cô ấy thuộc hội Những nhà khoa
học Thiên chúa giáo hay giáo phái
gì đó đại loại như thế. Nên tôi nói,
thế còn những người lính, bọn trai
trẻ bị đưa ra nước ngoài và có thể
bị giết, cầu Chúa thương họ.” Ông
ta nhún vai. “Tôi chẳng phải thằng
thông minh nhất trên đời. Nhưng
hồi đó mới gần hai mươi, tôi còn
ngu ngơ lắm. Nói thật với anh,
thỉnh thoảng vợ tôi – anh biết đó,
cũng làm cho tôi chuyện y hệt
Hannah Schreiber đã làm. Tôi
không thích bắt buộc bà ấy, bà ấy
làm rất cực. Chuyện đó với bà ấy
cũng như cái taxi với tôi vậy. Tôi sẽ
không ép buộc bà ấy. Tôi còn nhớ
rõ từng lần một. Thật đó. Một lần
sau ngày kỷ niệm Xuất Hành,[3] mẹ
tôi vẫn còn sống, cầu mong bà
được yên nghỉ. Vợ tôi lên đây cùng
với Mogen David. Sự thực là có tới
hai lần sau lễ Xuất Hành. Aachhh!
Những chuyện tốt đẹp trong đời
tôi chỉ đếm được trên đầu ngón
tay! Cầu chúa thương đừng khiến
ai để lại cho tôi một triệu đôla, tôi
sẽ thậm chí không cởi giầy ra nữa.
Tôi có cả một bàn tay nữa mà.”
Ông ta cầm cái chai sâm banh gần
cạn chỉ những ngọn đèn huỳnh
quang. “Anh bảo đó là ngọn đèn
hả? Đó là đèn để đọc sách hả?
Thật báng bổ, lạy Chúa tôi! Một
nửa số người mù trên thế giới này
đã tự hại mình bằng những thứ
khốn kiếp đó. Anh biết ai sau lưng
nó không? Bọn bán kính thuốc đó!
Để tôi nói cho anh nghe, nếu có ai
trả tôi vài trăm cho toàn bộ số
hàng và địa giới kinh doanh của
tôi, thì mai tôi bán liền. Đúng thế,
Leopold A. Patimkin, một học kỳ kế
toán, lớp đêm Đại học City, sẽ bán
hết thiết bị, địa giới kinh doanh,
uy tín. Tôi sẽ cho đăng năm phân
quảng cáo trên tờ Times. Địa giới
kinh doanh là từ đây cho đến bất
kỳ đâu. Tôi muốn đi đâu là đi,
mình làm chủ mình, chẳng có
thằng nào dạy bảo tôi phải làm gì.
Anh biết Kinh Thánh chứ? Chúa
phán, ‘Hãy có ánh sáng… và hãy có
Leopold Patimkin!’ Đó là nhãn hiệu
của tôi, tôi cũng bán luôn. Tôi bảo
cho họ câu khẩu hiệu đó, họ nghĩ
tôi đã đặt ra nó. Thông minh thì
ích gì trừ phi anh còn cơ may
thăng tiến. Trong ngón út của tôi
còn có nhiều chất xám hơn nguyên
một cái đầu của Ben. Vậy mà hắn
lên tới đỉnh còn tôi thì ở dưới đáy!
Ôi trời! Tin tôi đi, nếu anh sinh ra
may mắn, thì anh sẽ may mắn!”
Thế rồi ông ta ngồi im như thóc.
Tôi có cảm giác rằng ông ta sắp
khóc, nên tôi nghiêng người qua
thì thầm với ông ta, “Ông nên về
đi.” Ông ta đồng ý, nhưng tôi phải
đỡ ông ta đứng dậy và kè tay dìu
ông ta tới chỗ bà vợ với con gái.
Không đánh thức đứa con gái dậy
được nên Leopold với Bea nhờ tôi
trông chừng cô bé một lát để họ ra
hành lang lấy áo khoác. Khi họ trở
lại, Leopold coi bộ đã ngoi được trở
lại mức giao tiếp bình thường. Ông
ta bắt tay tôi với tình cảm thực sự.
Tôi cũng rất cảm động.
“Anh sẽ tiến xa,” ông ta nói với tôi.
“Anh là đứa thông minh, anh sẽ
chơi an toàn được. Đừng làm hỏng
mọi chuyện.”
“Không làm hỏng đâu.”
“Lần sau gặp lại mong sẽ là đám
cưới của anh.” Rồi ông ta nháy mắt
với tôi. Bea đứng gần đó, cứ lầm
bầm tạm biệt trong khi ông ta nói
chuyện. Ông ta lại bắt tay tôi rồi
bế đứa con đang nằm trên ghế lên
và họ đi ra cửa. Nhìn từ đàng sau,
vai rũ, nặng nề, bế con cái, trông
họ cứ như những người đang trốn
chạy khỏi một thành phố bị chiếm
đóng.
Tôi tìm thấy Brenda ngủ gục trên
một trường kỷ ngoài tiền sảnh. Lúc
đó đã gần bốn giờ sáng và chỉ hai
đứa tôi với nhân viên tiếp tân là
còn có mặt trong tiền sảnh khách
sạn. Ban đầu tôi không đánh thức
Brenda, vì trông nàng nhợt nhạt và
mệt mỏi và tôi biết nàng đã bệnh.
Tôi ngồi cạnh nàng, vuốt mái tóc
của nàng ra sau tai. Tôi tự hỏi làm
sao mà mình quen biết nàng, vì
khi nàng ngủ tôi cảm thấy mình
chẳng biết gì về nàng hơn những gì
tôi có thể thấy trong một bức ảnh
chụp. Tôi nhẹ nhàng lay nàng dậy
và trong cơn ngái ngủ nàng bước
cùng tôi ra xe.
Khi ra khỏi đường hầm Lincoln phía
Jersey thì trời đã gần sáng. Tôi hạ
đèn từ pha xuống cốt và chạy vào
đường cao tốc, và ngoài kia trước
mắt tôi là những đồng cỏ xâm xấp
nước trải dài hết dặm này sang
dặm khác, đẫm nước, loang lổ cỏ,
nồng hương, như một chốn bị
Thượng Đế bỏ quên. Tôi nghĩ đến
một điều bị bỏ quên khác, Leopold
Patimkin, ông em ghẻ của Ben.
Trong mấy giờ nữa ông ta hẳn đã ở
trên một chuyến xe lửa lên phương
bắc, và khi đi qua những cánh
đồng White và Scarsdale ông ta sẽ
ợ hơi và thấy lại vị sâm banh và sẽ
để mùi đó lưu lại ít lâu trong
miệng. Trên ghế bên cạnh ông ta,
như những hành khách khác, sẽ là
những thùng bóng đèn. Ông ta có
thể rời tàu ở New London, hoặc có
thể, hứng chí vì hình ảnh ông anh
ghẻ, ông ta sẽ đi tiếp, hy vọng tìm
được cơ may mới ở miệt cực bắc. Vì
địa giới kinh doanh của Leopold là
cả thế giới, mọi thành phố, mọi
đầm lầy, mọi con đường và xa lộ.
Ông ta có thể đi tiếp đến
Newfoundland nếu muốn, hay Vịnh
Hudson, rồi lên tuốt Thule, và thả
dốc qua mé bên kia địa cầu và gõ
vào những khung cửa sổ đầy băng
tuyết trên những thảo nguyên nước
Nga, nếu ông ta muốn. Nhưng ông
ta sẽ không muốn đâu. Leopold đã
bốn mươi tám và ông ta đã hiểu ra.
Ông cứ theo đuổi nỗi buồn và cảnh
thiếu tiện nghi, được thôi, nhưng
nếu bạn có đầy tâm sự khi tới New
London, thì bạn còn mong tìm kiếm
thảm cảnh nào nữa ở tận
Vladivostok?
Ngày hôm sau gió đưa mùa thu về
và những cành liễu rũ đã chạm
xuống tận bãi cỏ trước nhà
Patimkin. Buổi trưa tôi lái xe đưa
Brenda ra xe lửa, và nàng chia tay
tôi.
_________________________
[1]Thời kỳ cấm rượu: Giai đoạn
1920-33 luật Liên bang Mỹ cấm sản
xuất, chuyên chở và bán đồ uống
có cồn, cũng là cơ hội làm giàu của
giới buôn rượu lậu.
[2]kosher: loại thức ăn làm theo
luật của dân Do Thái.
[3]Xuất hành (exodus): cuộc di cư
của người Do Thái ra khỏi đất Ai
Cập.