Ring ring
index
HomeGửi Yêu Cầu Truyện
Trang wap đọc truyện giải trí trên mobi
U-ON
Noi-dau-tuoi-21 9Chia tay thôi - Columbus - Philip
Roth - Chương 8 - Full
Kỳ: ... 7 [8]
Mùa thu đến thật nhanh. Trời lạnh
và ở Jersey lá cây đổi màu và sau
một đêm là rụng sạch.
Ngày thứ Bảy kế tôi lại lên đó
ngắm hươu nữa, và thậm chí không
ra khỏi xe vì đứng bên hàng rào thì
quá lạnh, thế nên tôi ngắm lũ thú
đi và chạy trong bóng lờ mờ buổi
chiều tàn, và một lát sau mọi thứ,
ngay cả những vật thể thiên nhiên,
những cội cây, đám mây, cỏ, rêu,
đều gợi tôi nhớ đến Brenda, và tôi
lái xe về Newark. Chúng tôi đã trao
đổi những lá thư đầu tiên và một
khuya nọ tôi có gọi điện cho nàng,
nhưng trong thư và qua điện thoại
chúng tôi khó mà khám phá được
nhau; chúng tôi chưa có được
phong cách ấy. Đêm đó tôi gọi cho
nàng, và ai đó ở cùng tầng bảo
nàng đã ra ngoài đến khuya mới về.
Khi trở lại thư viện làm việc tôi bị
ông Scapello hạch hỏi về cuốn
Gauguin. Cái ông quai hàm bự đã
gửi một lá thư thối tha nói về
chuyện bất lịch sự của tôi, và tôi
chỉ có thể gỡ rối cho mình bằng
cách bịa ra một câu chuyện lộn
xộn bằng một giọng cau có. Sự
thực, tôi còn xoay xở lật ngược
được thế cờ khiến ông Scapello
phải xin lỗi khi dẫn tôi đến chỗ
làm việc mới, giữa đám bách khoa
tự điển, sách tiểu sử, các bảng tra
và chỉ dẫn. Trò cáu gắt ấy làm tôi
ngạc nhiên, và tôi tự hỏi phải
chăng tôi đã học được ít nhiều trò
này từ buổi sáng tôi thấy ông
Patimkin rủa xả Grossman qua điện
thoại. Có lẽ tôi đã nhiễm máu
doanh nhân nhiều hơn tôi nghĩ.
Nghe chừng tôi có thể dễ dàng học
được cách trở thành người trong
nhà Patimkin…
Ngày trôi qua chậm chạp; tôi
không bao giờ gặp lại cậu bé da
màu ấy nữa, và một trưa nọ khi tôi
nhìn qua các kệ sách, cuốn
Gauguin đã biến mất, rõ ràng sau
cùng ông quai hàm bự đã mượn
được nó. Tôi tự hỏi cái ngày cậu bé
da màu khám phá ra cuốn sách đã
biến mất thì như thế nào. Cậu ta
có khóc không? Vì lý do nào đó tôi
tưởng tượng rằng cậu sẽ oán trách
tôi vì chuyện này, nhưng rồi tôi
nhận ra mình đang lẫn lộn giấc
mộng của mình với thực tại. Rất có
thể cậu ta đã khám phá ra những
người khác, Van Gogh, Vermeer…
Nhưng không, họ không phải loại
họa sĩ cậu thích. Có thể cậu đã
chán chuyện vào thư viện và đã trở
lại chơi bóng chày trên đường phố.
Tôi nghĩ cậu sẽ thấy vui sướng
hơn. Cứ mang những giấc mơ về
Tahiti trong đầu thì thật vô nghĩa,
nếu mình không đủ tiền để tới đó.
Xem nào, tôi còn làm gì khác nữa?
Tôi ăn, tôi ngủ, đi xem phim,
chuyển những cuốn sách long gáy
tới chỗ đóng bìa – tôi làm mọi
chuyện từng làm trước đây, nhưng
bây giờ mỗi hoạt động bị vây kín
bằng một hàng rào, tồn tại một
mình, và cuộc đời tôi là chuyện
nhảy cóc từ hàng rào này sang
hàng rào kế. Không có dòng trôi
chảy nào cả, vì đã có Brenda.
Và rồi Brenda viết thư nói rằng
nàng có thể về nhân dịp tết Do
Thái vốn chỉ độ một tuần nữa là
tới. Tôi vui mừng đến nỗi muốn gọi
điện cho ông bà Patimkin, chỉ để
cho họ hay về nỗi vui mừng của
tôi. Tuy nhiên khi đến bên điện
thoại và đã quay được hai số đầu,
tôi biết rằng bên đầu dây kia sẽ
ngớ ra; nếu có gì để nói thì chỉ có
chuyện bà Patimkin sẽ hỏi, “Thế
cậu muốn gì?” Còn ông Patimkin
chắc đã quên luôn tên tôi rồi.
Đêm đó, sau bữa tối, tôi hôn dì
Gladys và bảo bà không cần phải
cực nhọc đến thế.
“Còn chưa đầy một tuần là tới Rosh
Hashana, mà nó bảo tôi đi nghỉ.
Tao phải chăm sóc mười người.
Mày nghĩ gì vậy, con gà tự tắm rửa
được hả? Tạ ơn Chúa, một năm mới
có một cái tết, tao chắc già trước
tuổi quá.”
Nhưng rồi dì Gladys chỉ phải coi
sóc chín người, vì chỉ hai ngày sau
khi tôi nhận lá thư Brenda đã gọi
điện.
“Ôi Chúa ơi!” dì Gladys kêu lên.
“Điện thoại đường dài!”
“A lô?” tôi hỏi.
“A lô, cưng hả?”
“Phải,” tôi đáp.
“Cái gì vậy?” dì Gladys kéo áo tôi.
“Cái gì vậy?”
“Điện của con mà.”
“Ai vậy?” dì Gladys hỏi, trỏ vào ống
nghe.
“Brenda,” tôi đáp.
“Sao?” Brenda hỏi.
“Brenda?” dì Gladys hỏi. “Sao nó
lại gọi đường dài, tao thiếu điều
đau tim luôn.”
“Vì cô ấy ở Boston,” tôi đáp. “Dì
Gladys, làm ơn đi mà…”
Và dì Gladys bỏ đi, lầm bầm, “Tụi
nhỏ bây giờ…”
“A lô,” tôi nói vào điện thoại.
“Neil, anh khoẻ không?”
“Anh yêu em.”
“Neil, không ổn rồi. Tuần này em
không về được.”
“Nhưng, em, tết Do Thái mà.”
“Anh yêu,” nàng bật cười.
“Em không nói rõ được sao, phải có
cớ gì chứ?”
“Thứ bảy em có bài kiểm tra, và
một bài luận văn, và anh biết đó
nếu về nhà thì em làm bài không
xong…”
“Làm được mà.”
“Neil, em làm không được. Mẹ sẽ
bắt em đi đền thờ, và em sẽ không
có giờ gặp anh.”
“Ôi trời, Brenda.”
“Cưng?”
“Sao?”
“Anh không lên đây được sao?”
nàng hỏi.
“Anh phải đi làm.”
“Tết Do Thái mà,” nàng nói.
“Em yêu, anh không đi được. Năm
ngoái anh cũng không nghỉ được,
anh không thể…”
“Anh cứ nói là đã cải đạo.”
“Với lại, bà dì anh tổ chức tiệc cho
cả gia đình, và em biết với bố mẹ
anh thì…”
“Lên với em đi, Neil.”
“Anh không xin nghỉ hai ngày được,
Bren. Anh vừa được thăng chức và
tăng lương…”
“Dẹp quách vụ tăng lương đi.”
“Em yêu, đây là việc làm của anh.”
“Suốt đời hả?” nàng hỏi.
“Không.”
“Vậy thì đến đây đi. Em đặt một
phòng khách sạn.”
“Cho anh?”
“Cho tụi mình.”
“Em đặt được sao?”
“Được và không. Người ta làm vậy
hoài.”
“Brenda, em đang dụ anh đó.”
“Cứ bị dụ đi.”
“Anh có thể đón chuyến tàu thứ Tư
ngay khi tan sở.”
“Anh có thể ở đến tối Chủ nhật.”
“Bren, không được đâu. Thứ Bảy
anh phải trở lại làm việc.”
“Trong tuần anh không có ngày
nghỉ nào sao?” nàng hỏi.
“Thứ ba.” Tôi nói rầu rĩ.
“Chúa ơi.”
“Với Chủ nhật nữa.” Tôi thêm.
Brenda nói gì đó nhưng tôi không
nghe được vì dì Gladys kêu, “Mày
nói chuyện đường dài cả ngày
sao?”
“Im lặng giùm!” tôi quát lại.
“Neil, anh đến nghe?”
“Mẹ kiếp, đến.” Tôi nói.
“Anh bực hả?”
“Không phải thế đâu. Anh sẽ đến.”
“Ở tới Chủ nhật.”
“Để tính sau.”
“Đừng ưu tư, Neil. Nghe giọng anh
ưu tư quá. Ngày tết Do Thái mà. Ý
em là anh phải được nghỉ.”
“Được rồi,” tôi nói. “Anh là dân Do
Thái chính thống, lạy Chúa tôi, anh
phải lợi dụng điều đó.”
“Đúng thế,” nàng nói.
“Có chuyến tàu nào khoảng sáu giờ
không?”
“Chắc mỗi giờ đều có chuyến.”
“Vậy anh sẽ đi chuyến sáu giờ.”
“Em sẽ đón ở ga,” nàng nói. “Làm
sao em nhận ra anh?”
“Anh sẽ cải trang thành một tay Do
Thái chính thống.”
“Em cũng vậy,” nàng nói.
“Ngủ ngon, cưng,” tôi nói.
* * *
Dì Gladys kêu trời khi tôi nói sẽ đi
chơi xa trong dịp Rosh Hashana.
“Trong khi tao đang chuẩn bị một
bữa tiệc lớn,” dì ấy nói.
“Thì dì cứ chuẩn bị.”
“Thế tao nói sao với mẹ mày?”
“Con sẽ nói với mẹ con, dì Gladys
ạ. Làm ơn đi mà. Dì đâu có quyền
bực bội…”
“Tới lúc mày có gia đình mày sẽ
hiểu chuyện đó ra làm sao.”
“Bây giờ con có gia đình rồi.”
“Có chuyện gì,” dì ấy nói và hỉ mũi
một cái, “mà con bé ấy không về
thăm nhà được trong ngày tết?”
“Cô ấy đang học, nên không thể…”
“Nếu nó yêu gia đình nó sẽ thu
xếp được. Mình đâu có sống tới
sáu trăm năm.”
“Cô ấy yêu gia đình mà.”
“Thế thì mỗi năm một lần mày phải
thấy thương và về thăm.”
“Dì Gladys, dì không hiểu.”
“Chắc chắn rồi,” dì ấy nói, “khi hăm
ba tuổi tao sẽ hiểu mọi chuyện.”
Tôi bước tới hôn dì và dì ấy bảo,
“Mày xéo đi, cứ phóng tới Boston
ấy…”
Sáng hôm sau tôi khám phá ra
rằng ông Scapello cũng không
muốn tôi nghỉ lễ Rosh Hashana,
nhưng tôi nghĩ mình đã làm ông ta
chới với bằng cách hàm ý rằng việc
ông ta lạnh lùng khi tôi muốn nghỉ
hai ngày này có thể là dấu hiệu
của tư tưởng bài Do Thái được che
giấu kỹ, nên nhìn chung ông ta
cũng dễ thu xếp hơn. Đến giờ ăn
trưa tôi đi bộ tới nhà ga Penn và
rút lấy một tờ lịch giờ tàu chạy tới
Boston. Đó là cái để tôi đọc trước
khi ngủ trong ba đêm kế tiếp.
* * *
Nàng trông không hề giống Brenda,
ít nhất là trong phút đầu tiên. Và
có lẽ với nàng tôi cũng trông không
giống tôi. Nhưng chúng tôi hôn và
ôm lấy nhau, và cảm giác của
những lớp áo khoác dầy cộm giữa
hai chúng tôi nghe thật lạ.
“Em đang để tóc dài,” nàng nói
trong taxi, và thực sự suốt đoạn
đường nàng chỉ nói có thế. Mãi
đến khi đỡ nàng ra khỏi xe tôi mới
để ý thấy một sợi băng màu vàng
mỏng trên bàn tay trái của nàng.
Nàng lui ra sau, loanh quanh trong
đại sảnh trong khi tôi ký sổ thuê
phòng với tên “ông và bà
Klugman,” và khi vào trong phòng
chúng tôi lại hôn nhau.
“Tim em đập quá trời,” tôi nói với
nàng.
“Em biết,” nàng nói.
“Em bối rối sao?”
“Không?”
“Em làm chuyện này bao giờ chưa?”
tôi hỏi.
“Em đọc trong Mary McCarthy.”
Nàng cởi áo khoác ra và thay vì treo
trong tủ, nàng vất nó trên ghế. Tôi
ngồi xuống giường, nàng thì không.
“Có chuyện gì vậy?”
Brenda hít một hơi dài và bước tới
cửa sổ, và tôi nghĩ tốt nhất là mình
đừng hỏi gì cả – để chúng tôi quen
dần với sự có mặt của nhau trong
im lặng. Tôi treo áo khoác của
nàng và của tôi trong cái tủ trống
rỗng, và cứ để valy – của nàng và
của tôi – ở cạnh giường.
Brenda đang qùi ngả ra trên ghế,
nhìn ra cửa sổ cứ như nàng muốn
mình đang ở ngoài đó. Tôi đến sau
lưng nàng, vòng tay ôm nàng và
đặt tay lên bộ ngực, và khi cảm
thấy luồng gió lạnh lùa dưới khe
cửa sổ, tôi nhận ra đã bao lâu rồi
từ cái đêm ấm áp đầu tiên khi tôi
vòng tay ôm nàng và cảm thấy đôi
cánh nhỏ xíu vỗ vỗ trên lưng nàng.
Và rồi tôi nhận ra tại sao mình đến
Boston – cũng khá lâu rồi. Đã đến
lúc thôi không đùa về chuyện hôn
nhân nữa.
“Có chuyện gì hả?” tôi hỏi.
“Ừ.”
Đó không phải câu trả lời tôi chờ
đợi; thực ra tôi chẳng chờ đợi câu
trả lời nào, tôi chỉ muốn làm nàng
bớt bồn chồn bằng vẻ quan tâm
của mình thôi.
Nhưng tôi vẫn hỏi, “Chuyện gì vậy?
Sao không nghe em nói lúc điện
thoại?”
“Mới xảy ra hôm nay.”
“Chuyện ở trường?”
“Ở nhà. Ba mẹ em biết hết chuyện
tụi mình rồi.”
Tôi xoay khuôn mặt nàng về phía
tôi. “Thế cũng tốt. Anh cũng nói
với bà dì là anh đến đây. Có gì
khác vậy?”
“Về mùa hè. Về chuyện tụi mình
ngủ với nhau.”
“Hả?”
“Phải.”
“… Ron hả?”
“Không.”
“Đêm đó, ý em là, có phải Julie…”
“Không,” nàng nói, “Không tại ai
hết.”
“Anh không hiểu.”
Brenda đứng dậy và đi tới giường
và ngồi xuống mép. Tôi ngồi trên
ghế.
“Mẹ em tìm thấy cái đó.”
“Cái màng tránh thai?”
Nàng gật đầu.
“Hồi nào?” tôi hỏi.
“Bữa kia, em đoán vậy.” Nàng bước
tới bàn và mở ví ra. “Đây, anh có
thể đọc theo thứ tự mà em nhận
được.” Nàng thẩy một phong bì cho
tôi; nó nhàu nát và lấm lem ở góc,
làm như đã bị nàng nhét túi rồi
móc ra nhiều lần. “Em nhận được
nó sáng nay,” nàng nói. “Giao bảo
đảm.”
Tôi rút lá thư ra và đọc:
BỒN RỬA VÀ BỒN TẮM PATIMKIN
“Đủ cỡ – Đủ kiểu”
Brenda thân yêu,
Đừng để ý Lá thư của mẹ làm gì
khi con nhận được nó. Ba yêu con
cưng khi con muốn áo khoác ba sẽ
mua cho Con áo khoác. Lúc nào con
cũng có được những thứ con
muốn. Ba mẹ luôn tin ở con nên
con đừng bối rối về những điều mẹ
nói trong Thư. Dĩ nhiên mẹ con có
hơi hoảng loạn vì cú sốc này và mẹ
lâu nay đã Làm việc chăm chỉ đến
thế cho Hadassah. Mẹ con là Đàn
bà và thật khó để bà hiểu được
những cú Sốc trong cuộc sống. Dĩ
nhiên ba không thể nói là Ba mẹ
không hề ngạc nhiên vì ngay từ
đầu ba đã tử tế với cậu ta và Nghĩ
rằng cậu ta sẽ trân trọng kỳ nghỉ
tốt đẹp mà chúng ta đem lại cho
cậu ấy. Một số Người chẳng bao giờ
cư xử như mình mong muốn và cầu
xin nhưng ba sẵn sàng tha thứ và
cho rằng Cái gì qua hãy Cho nó
qua, Cho đến nay con vẫn là đứa
con ngoan và được Học hành tử tế
và Ron lúc nào cũng là đứa con
ngoan mà ba mẹ muốn, quan trọng
nhất nó là đứa Tử tế. Hãy tin ba
vào lúc già đời này ba sẽ không
ghét bỏ máu mủ của mình. Về lỗi
lầm của con thì phải có Hai người
mới làm nên tội lỗi này và bây giờ
thì con đã ở trường và xa cậu ta và
việc gì con làm con có lẽ sẽ làm tốt
ba luôn có niềm tin ở con. Mình
phải có niềm tin ở con cái mình
cũng như niềm tin vào Công việc
hoặc bất kỳ chuyện nghiêm túc nào
và không có gì tệ hại đến nỗi ba
mẹ không thể tha thứ nhất là khi
dính đến ruột thịt của Ba mẹ.
Chúng ta có một gia đình gắn bó
và tại sao không??? Hãy hưởng một
kỳ Nghỉ đẹp và ở Đền thờ ba sẽ cầu
nguyện cho con như ba vẫn làm
mỗi năm. Thứ Hai ba muốn con đi
Boston và mua môâït cái áo khoác
hay bất cứ thứ gì con cần bởi vì ba
biết ở chỗ con trời sẽ Lạnh đến cỡ
nào… Cho ba gửi lời thăm Linda và
nhớ dẫn nó về chơi với con vào dịp
lễ Tạ ơn giống hồi năm ngoái. Hai
đứa con đã có những ngày thoải
mái đến thế. Ba chưa bao giờ nói
gì tệ về bất kỳ người bạn nào của
con hay của Ron và chuyện này xảy
ra cũng chỉ là cái ngoại lệ chứng
minh cho qui tắc thông thường.
Hãy Hưởng một Kỳ lễ Thoải mái.
BA CỦA CON
Và nó đã được ký tên là BEN
PATIMKIN, rồi bị gạch bỏ và ở dưới
lại viết “Ba của con” một lần nữa,
như một tiếng vọng, những chữ đó,
“Ba của con.”
“Linda là ai vậy?” tôi hỏi.
“Bạn cùng phòng của em, năm
ngoái.” Nàng thẩy ra một lá thư
nữa cho tôi. “Thư này, em nhận
hồi chiều. Gửi đường hàng không.”
Đó là thư của mẹ Brenda. Tôi bắt
đầu đọc và rồi để xuống một lúc.
“Em nhận thư này sau hả?”
“Ừ,” nàng nói. “Khi nhận thư ba
em chẳng hiểu đã xảy ra chuyện gì.
Đọc thư của mẹ đi.”
Tôi đọc lại.
Brenda thân yêu:
Mẹ chẳng biết phải bắt đầu làm
sao. Mẹ đã khóc cả buổi sáng và đã
phải bỏ buổi họp ủy ban của mẹ
chiều nay vì mắt mẹ đỏ hết rồi. Mẹ
chẳng bao giờ nghĩ chuyện này sẽ
xảy ra với một đứa con gái của
mình. Mẹ tự hỏi con có hiểu ý mẹ
không, nếu ít nhất nó cũng làm
con áy náy lương tâm, nên mẹ sẽ
không làm khổ cả hai mẹ con bằng
việc kể lể đầu đuôi. Mẹ chỉ có thể
nói rằng sáng nay khi mẹ dọn dẹp
các ngăn kéo và cất dọn quần áo
mùa hè của con thì mẹ bắt gặp
một món ở ngăn tủ dưới cùng của
con, bên dưới mấy cái áo cổ lọ mà
chắc con nhớ đã để ở đó. Mẹ bật
khóc ngay khi trông thấy nó và tới
lúc này mẹ cũng không hết khóc
được. Ba con mới gọi điện về và
bây giờ đang chạy xe về đây vì qua
điện thoại ba nghe mẹ có vẻ
choáng váng quá.
Mẹ không biết ba mẹ đã làm gì mà
con đối xử như thế với ba mẹ. Ba
mẹ đã cho con một mái ấm với tất
cả tình yêu và trân trọng mà một
đứa con cần. Mẹ lúc nào cũng tự
hào rằng khi còn là một bé gái con
đã biết thu xếp cho mình rất tốt.
Khi mới mười bốn tuổi con đã
chăm sóc Julie giỏi đến độ nhìn
thấy cũng sung sướng. Nhưng con
đã xa dần gia đình, tuy rằng ba mẹ
đã gửi con đến những ngôi trường
tốt nhất và cho con những thứ tốt
nhất mà tiền bạc có thể mua được.
Tại sao con lại đối xử vậy với ba
mẹ vẫn là câu hỏi mẹ sẽ mang tới
ngày xuống mộ.
Mẹ chẳng nói gì về anh bạn của
con cả. Cậu ta thuộc trách nhiệm
của bố mẹ cậu ta và mẹ không thể
tưởng tượng cậu ta đã có đời sống
thế nào trong gia đình để đến nỗi
cậu ta cư xử như vậy. Rõ ràng đó là
cách trả ơn rất hay cho lòng hiếu
khách mà ba mẹ đã dành cho cậu
ấy, một kẻ lạ hoàn toàn. Chuyện
hai đứa bay làm như thế trong nhà
của chính ba mẹ thì trong đời mẹ
chẳng thể nào hiểu được. Thời đại
chắc chắn đã thay đổi nhiều từ khi
mẹ còn là con gái đến nỗi chuyện
kiểu này có thể xảy ra. Mẹ cứ tự
hỏi mình ít nhất liệu con có nghĩ
tới ba mẹ trong khi con làm như
thế không. Nếu không gây ra cho
mẹ thì làm sao mà con lại gây
chuyện đó cho ba? Cầu Chúa đừng
để Julie biết được chuyện này.
Chỉ có Chúa mới biết con đã làm
những chuyện gì trong bấy nhiêu
năm ba mẹ tin tưởng ở con.
Con đã làm tan nát trái tim ba mẹ
và con phải biết điều đó. Đây là
một kiểu cám ơn đối với những gì
ba mẹ đã đem lại cho con đấy.
MẸ
Bà ấy chỉ ký là “Mẹ” một lần, và
viết bằng một nét rất nhỏ, như một
lời thì thầm vậy.
“Brenda,” tôi gọi.
“Cái gì?”
“Em khóc hả?”
“Không. Em khóc rồi.”
“Vậy đừng khóc nữa.”
“Em cố không khóc.”
“Được rồi… Brenda, anh hỏi em
một câu được không?”
“Hỏi gì?”
“Sao em bỏ nó ở nhà?”
“Vì em đâu tính sử dụng nó ở đây,
vậy đó.”
“Giả sử anh lên đây. Ý anh là lẽ ra
anh lên đây, thì sao?”
“Em định em sẽ về dưới đó trước.”
“Vậy là để lúc đó em khỏi phải
mang nó theo? Như bàn chải đánh
răng vậy hả?”
“Anh đang cố nói đùa đó hả?”
“Không. Anh chỉ hỏi sao em lại bỏ
nó ở nhà thôi.”
“Em đã nói rồi,” Brenda nói. “Em
nghĩ em sẽ về nhà.”
“Nhưng, Brenda, chuyện đó vô lý.
Giả sử như em về nhà, rồi em trở
lên. Em cũng không mang nó theo
được sao?”
“Em không biết.”
“Đừng có bực bội,” tôi nói.
“Anh mới là người bực bội thì có.”
“Anh chới với, anh không bực bội.”
“Em cũng chới với vậy.”
Tôi không đáp mà đi lại cửa sổ
nhìn ra ngoài. Trăng sao đã mọc,
sáng bạc và khô cứng, và từ cửa sổ
tôi có thể nhìn thấy tận khu đại
học Harvard sáng đèn và có vẻ như
nhấp nháy sau hàng cây lá đong
đưa.
“Brenda…”
“Gì?”
“Biết mẹ em thường nghĩ gì về em,
thì chuyện bỏ nó ở nhà không phải
là ngu ngốc sao? Đầy rủi ro?”
“Chuyện mẹ nghĩ gì về em thì có
liên quan gì?”
“Em không thể tin cậy mẹ em.”
“Tại sao không?”
“Em không thấy sao? Em không
thể.”
“Neil, mẹ em chỉ dọn dẹp mấy
ngăn kéo.”
“Em không biết trước là mẹ em sẽ
làm chuyện đó sao?”
“Trước đây mẹ chưa từng làm việc
đó. Hoặc có thể mẹ đã làm. Neil,
em đâu thể dự trù mọi chuyện.
Mình ngủ với nhau hết đêm này
sang đêm khác mà đâu có ai nghe
được hay nhận ra…”
“Brenda, tại cái quái qủi gì mà em
luôn làm rối tung mọi chuyện lên
vậy?”
“Em không có làm rối!”
“Được rồi,” tôi dịu giọng. “Được rồi
mà.”
“Anh mới là người làm rối mọi
chuyện,” Brenda nói. “Anh cứ làm
như em muốn mẹ tìm thấy cái đó
vậy.”
Tôi không đáp.
“Anh tin điều đó không?” nàng nói,
sau khi cả hai đứa chẳng nói gì
suốt một lúc.
“Anh không biết.”
“Ôi, Neil, anh điên rồi.”
“Còn cái gì điên hơn chuyện để cái
món mắc dịch đó ở nhà?”
“Đó là sơ sót.”
“Bây giờ thì là sơ sót, còn trước đó
nó là cố ý.”
“Đó là sơ sót không tính trước
chuyện dọn dẹp ngăn kéo. Không
phải sơ sót bỏ quên nó ở nhà.”
Nàng nói.
“Brenda, em yêu, mang nó trong
người không phải là cách an toàn
nhất, khôn ngoan nhất và đơn giản
nhất sao? Phải chưa?”
“Dù sao nó cũng chẳng thay đổi gì
được?”
“Brenda, đây là cuộc tranh luận
nản chí nhất trong đời anh!”
“Anh cứ làm như em muốn mẹ em
tìm ra nó vậy. Bộ anh nghĩ em cần
đến nó sao? Phải không? Thậm chí
em chẳng còn mặt mũi nào mà về
nhà nữa kìa.”
“Vậy sao?”
“Ừ!”
“Không đâu,” tôi nói. “Em vẫn có
thể về… ba em sẽ chờ ở nhà với
hai cái áo khoác và nửa tá váy áo.”
“Còn mẹ em thì sao?”
“Với bà ấy thì cũng vậy thôi.”
“Đừng vô lý thế. Làm sao em dám
gặp mặt họ?”
“Sao em không dám? Em có làm gì
sai đâu?”
“Neil, nhìn vào thực tế mọi chuyện
coi, được không?”
“Em có làm gì sai không?”
“Neil, ba mẹ em nghĩ chuyện đó là
sai. Đó là ba mẹ em.”
“Nhưng em có nghĩ nó sai…”
“Chuyện đó không thành vấn đề.”
“Nó là vấn đề với anh đó, Brenda…”
“Neil, sao anh cứ lẫn lộn mọi
chuyện? Anh cứ kết tội em đủ
thứ.”
“Mẹ kiếp, Brenda, em có lỗi trong
một số chuyện.”
“Chuyện gì?”
“Chuyện bỏ cái màng tránh thai
mắc dịch đó ở nhà. Vậy mà còn gọi
đó là sơ suất nữa!”
“Ôi, Neil, đừng có dở thứ lý sự
phân tâm học đó ra nữa!”
“Thế thì tại sao em làm thế? Em
muốn mẹ em tìm thấy nó!”
“Tại sao?”
“Anh không biết, Brenda, tại sao?”
“Ôi trời!” Nàng nói, rồi nhặt một
cái gối lên và ném lại vào giường.
“Bây giờ tới chuyện gì, Brenda?” tôi
hỏi.
“Vậy nghĩa là sao?”
“Vậy đó thôi. Bây giờ tới chuyện
gì?”
Nàng lăn xuống giường và giấu mặt
đi.
“Đừng có khóc mà,” tôi nói.
“Em không khóc.”
Tôi vẫn còn cầm hai lá thư và rút
thư của ông Patimkin ra khỏi
phong bì.
“Sao ba em cứ viết hoa lung tung
vậy?”
Nàng không đáp.
“‘Về lỗi lầm của con,’” tôi đọc lớn
cho Brenda nghe, “’thì phải có Hai
người mới làm nên tội lỗi này và
bây giờ thì con đã ở trường và xa
cậu ta và việc gì con làm con có lẽ
sẽ làm tốt ba luôn có niềm tin ở
con. Ba của con. Ba của con.’”
Nàng quay lại nhìn tôi; nhưng vẫn
im lặng.
“‘Ba chưa bao giờ nói gì tệ về bất
kỳ người bạn nào của con hay của
Ron và chuyện này xảy ra cũng chỉ
là cái ngoại lệ chứng minh cho qui
tắc thông thường. Hãy Hưởng một
Kỳ lễ Thoải mái.’” Tôi ngưng lại;
trên gương mặt Brenda rõ ràng
không có nguy cơ nước mắt nào;
đột nhiên trông nàng rắn chắc và
cương quyết. “Rồi, em định sẽ làm
gì?” tôi hỏi.
“Chẳng làm gì cả.”
“Em định dẫn ai về dịp lễ Tạ ơn…
Linda?” tôi hỏi. “Hay anh?”
“Em còn dẫn được ai về nữa, Neil?”
“Anh không biết, em dẫn được ai?”
“Em dẫn anh về được không?”
“Anh không biết,” tôi nói, “em dám
không?”
“Đừng có lập lại câu hỏi nữa!”
“Chắc cú là anh không thể trả lời
em.”
“Neil, thực tế chút đi. Sau vụ này
em còn dẫn anh về được sao? Anh
không thấy bọn mình không còn
làm gì được nữa sao?”
“Anh không thể nếu em không thể,
anh làm được nếu em làm được.”
“Anh lại dở giọng Thiền ra đó hả,
Chúa ơi!”
“Brenda, lựa chọn không ở phía
anh. Em có thể dẫn Linda hoặc
anh. Em có thể về hoặc không về.
Đó là một lựa chọn khác. Mà em
thậm chí không cần phải ưu tư về
chuyện chọn giữa anh với Linda
nữa kìa.”
“Neil, anh không hiểu. Họ vẫn là ba
mẹ em. Họ đã cho em học ở những
trường tốt nhất, đúng không? Họ
đã cho em mọi thứ cần thiết, phải
chưa?”
“Phải.”
“Vậy làm sao em không về nhà
được? Em phải về nhà.”
“Tại sao?”
“Anh không hiểu rồi. Bố mẹ anh
chẳng còn lo gì về anh nữa. Anh
may mắn.”
“Ồ, phải. Anh sống với bà dì khùng,
thật là tiện lợi.”
“Gia đình thì khác. Anh không
hiểu.”
“Mẹ kiếp. Anh còn hiểu hơn em
tưởng. Anh hiểu tại cái quái gì mà
em cứ bỏ bừa cái món đó. Phải
không? Em không cộng hai với hai
được sao?”
“Neil, anh đang nói cái khỉ gì vậy?
Anh mới là người không hiểu. Anh
là người ngay từ đầu đã kết tội em
đủ thứ, nhớ không? Không phải vậy
sao? Sao em không đi chữa mắt?
Sao em không đi sửa cái này, chữa
cái kia? Cứ như em không đi chữa
là lỗi của em vậy. Anh cứ cư xử làm
như bất cứ lúc nào em cũng sắp
bỏ anh. Bây giờ anh lại làm thế
nữa, bảo rằng em cố tình bỏ cái đó
lại cho mẹ thấy.”
“Anh yêu em, Brenda, nên anh lo
nghĩ.”
“Em yêu anh. Bởi thế nên ngay từ
đầu em đã chịu dùng cái đó.”
Và rồi chúng tôi nghe ra sự căng
thẳng trong câu chuyện và cả hai
chìm vào ý nghĩ riêng và im lặng.
Vài phút sau tôi nhặt túi của mình
lên và mặc áo khoác vào. Tôi cũng
nghĩ Brenda đang khóc khi tôi
bước ra khỏi cửa.
* * *
Thay vì đón ngay một cái taxi, tôi
lại đi bộ dọc theo phố và hướng về
phía khu đại học Harvard mà tôi
chưa từng được thấy trước đó. Tôi
bước vào một trong những cánh
cổng rồi đi theo một con đường,
dưới tàng cây mùa thu mệt mỏi và
bầu trời đêm. Tôi muốn được một
mình, trong bóng tối; chẳng phải
vì tôi muốn suy nghĩ về bất cứ
điều gì, mà có lẽ vì, chỉ trong nhất
thời, tôi chẳng muốn suy nghĩ gì
cả. Tôi đi xuyên qua khu đại học và
lên một quả đồi nhỏ và rồi đứng
trước Thư viện Lamont, nơi đây,
Brenda có lần nói với tôi, có lắp
những bồn tắm Patimkin trong mấy
phòng vệ sinh của nó. Từ ánh sáng
đèn dọc con đường phía sau, tôi có
thể thấy bóng mình phản chiếu
trên mặt tiền lắp kính của tòa nhà.
Bên trong tối om và chẳng thấy
bóng dáng sinh viên nào, chẳng có
nhân viên thủ thư nào. Đột nhiên,
tôi muốn đặt va ly xuống, nhặt một
cục đá và ném cho vỡ toang lớp
kính, nhưng dĩ nhiên tôi không làm
thế. Tôi chỉ nhìn bóng mình trong
mặt kính loang loang ánh đèn. Tôi
chỉ là thứ chất liệu đó, tôi nghĩ,
những chân tay đó, khuôn mặt đó
mà tôi nhìn thấy trước mắt. Tôi
nhìn, nhưng vẻ ngoài của tôi cho
biết rất ít về phần bên trong của
tôi. Tôi ước chi mình có thể đi
vòng ra mặt sau lớp kính, nhanh
hơn ánh sáng hay âm thanh hay
Herb Clark trong Ngày Cựu sinh
viên, để tới được phía sau hình
ảnh đó và bắt gặp cái vật thể đang
nhìn bằng đôi mắt kia. Cái gì ở
trong tôi đã biến việc theo đuổi và
nắm giữ thành tình yêu, rồi lại lộn
ngược nó ra? Cái gì đã biến thắng
thành thua, và thua – ai biết được
– thành thắng? Tôi biết chắc mình
đã yêu Brenda, tuy rằng đứng ở
đây, tôi biết mình không thể yêu
nàng nữa. Và tôi biết rằng phải
một thời gian dài tôi mới yêu được
bất cứ ai theo cái kiểu tôi đã yêu
nàng. Với bất kỳ ai khác, liệu tôi có
được một nỗi đam mê như thế
không? Cái gì đã tạo ra tình yêu tôi
dành cho nàng thì nó có tạo ra nỗi
khát khao như thế không? Nếu như
nàng hơi ít chất Brenda đi một
chút… nhưng rồi lúc đó tôi có yêu
nàng không? Tôi nhìn kỹ vào hình
bóng mình, vào cõi tối tăm của mặt
thủy tinh, rồi tia nhìn của tôi thấu
qua đó, qua sàn nhà mát lạnh, đến
một bức tường nham nhở những
sách, được chất lên kệ một cách
thiếu ngay ngắn.
Tôi nhìn tiếp một lúc không lâu
lắm, rồi đón chuyến xe lửa đưa tôi
về đến Newark ngay khi mặt trời
đang lên cho ngày đầu tiên của
dịp tết Do Thái. Tôi trở về còn dư
khối thì giờ trước khi đi làm lại.
Hết